Trường tiểu học Tân Lập 1, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận
Lịch sử thế giới cận đại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:39' 07-04-2024
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:39' 07-04-2024
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Lịch sử Thế giới cận đại
—★—
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà xuất bản: NXB Giáo dục
Người tạo ebook: Nhật Nguyễn
Ngày hoàn thành: 23/02/2019
Ebook được chia sẻ với mục đích phi lợi nhuận
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Nội dung cơ bản của thời kỳ lịch sử cận đại là sự chuyển biến từ chế
độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, sự xác lập phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới.
Những cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và Bắc Mỹ (giữa thế kỷ XVI giữa thế kỷ XIX) đã từng bước thiết lập hệ thống chính trị tư sản trong các
quốc gia phát triển (Anh, Mỹ, Pháp, Đức) rồi lan tỏa ảnh hưởng ra các
nước trên những mức độ khác nhau ở châu Âu, châu Mỹ latinh và châu Á.
Cùng với sự hình thành bộ máy nhà nước tư sản là sự xuất hiện các trào
lưu tư tưởng về quyền con người và quyền công dân; các học thuyết về thể
chế chính trị và quyền tự do dân chủ, nổi bật nhất là Triết học Ánh sáng;
các dòng văn học lãng mạn và hiện thực phản ánh cuộc vận động lớn lao
đó.
Thời kỳ này còn được đánh dấu bởi cuộc cách mạng công nghiệp, mở
đầu bằng việc phát minh và sử dụng máy hơi nước vào sản xuất ở nước
Anh cuối thế kỷ XVIII. Một quá trình công nghiệp hóa diễn ra rầm rộ ở
châu Âu đã làm thay đổi cách thức sản xuất từ lao động bằng tay, sang sử
dụng máy móc và từng bước hình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn
chỉnh; từ sản xuất quy mô nhỏ lên quy mô lớn với sự ra đời của các nhà
máy và các khu công nghiệp, khiến cho loài người trong vòng chưa đầy một
trăm năm, có thể sáng tạo nên một lực lượng vật chất to lớn hơn và đồ sộ
hơn tất cả các thế hệ trước cộng lại, theo đánh giá của C.Mác và
Ph.Ăngghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Chính những thành
tựu kinh tế và kỹ thuật ấy đã khẳng định ưu thế của chế độ tư bản đối với
chế độ phong kiến, đã tạo nên một bước ngoặt cơ bản “từ làn sóng văn
https://thuviensach.vn
minh nông nghiệp sang làn sóng văn minh công nghiệp” theo cách diễn dạt
của nhà tương lai học A.Toffler.
Kết quả ấy dẫn tới những biến động lớn lao về đời sống xã hội với sự
tăng dân số, sự phát triển đô thị, sự pháp lý hóa chế độ gia đình một chồng
một vợ và điều quan trọng là sự hình thành các giai cấp xã hội mới.
Giai cấp tư sản công thương nghiệp và giai cấp vô sản công nghiệp hệ quả tất yếu của cách mạng công nghiệp - trở thành hai giai cấp cơ bản
của xã hội tư bản chủ nghĩa, có mối liên hệ khăng khít trong guồng máy
sản xuất của nền kinh tế, đồng thời ẩn chứa mối mâu thuẫn cơ bản về
quyền lợi giữa những người thống trị và những người bị trị, giữa tư sản và
vô sản. Từ trong sự đối lập dai dẳng ấy đã hình thành trào lưu tư tưởng xã
hội chủ nghĩa tiền công nghiệp (Morơ, Mêliê, Babớp…) trào lưu xã hội chủ
nghĩa không tưởng Pháp (Xanh Ximông, Phuariê…) cho đến chủ nghĩa xã
hội khoa học của Mác và Ăngghen. Những cuộc đấu tranh tiếp diễn về mặt
ý thức hệ cũng như về mặt tổ chức (Quốc tế I, Quốc tế II) trở thành một
trong những nét quan trọng của lịch sử phong trào công nhân quốc tế, đi từ
học thuyết Mac đến học thuyết Lênin, từ cuộc thủ nghiệm Công xã Pari
(1871) đến thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917).
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với quá trình thực dân
hóa ở các châu lục chậm phát triển. Từ các thuộc địa của người Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha trong thời kỳ phát kiến địa lý (cuối thế kỷ XV) đến hệ
thống thuộc địa rộng lớn của người Anh, người Pháp… thì vào cuối thế kỷ
XIX hầu như trên hành tinh không còn vùng “đất trống”, nghĩa là không
nơi nào không bị người phương Tây xâm lược và thống trị.
Các nước châu Á, châu Phi không đứng vững được trước làn sóng
thôn tính ào ạt của phương Tây có trình độ kinh tế cao hơn và trang bị kỹ
thuật quân sự tối tân hơn nên lần lượt trở thành các thuộc địa và phụ
thuộc. Riêng Nhật Bản, với cuộc Duy Tân Minh Trị (1868) đã vượt qua
được thử thách đó, giữ vững chủ quyền, vươn lên thành một nước tư bản và
bước vào hàng ngũ đế quốc. Thành công của Nhật Bản gây nên tiếng vang
https://thuviensach.vn
lớn, thúc đẩy phong trào tư sản mới xuất hiện yếu ớt ở một số quốc gia
châu Á. Người Trung Hoa thất bại trong việc áp dụng kinh nghiệm duy tân
trong cuộc vận động năm Mậu Tuất (1898) đã tìm con đường cách mạng
với học thuyết Tam Dân của Tôn Trung Sơn, dẫn đến cuộc cách mạng Tân
Hợi (1911) nhưng phải dừng lại nửa chừng. Sự chọn lựa giữa hai khả năng
cải lương và cách mạng của các nhà yêu nước phương Đông đã không đem
lại kết quả gì khi thế giới bước vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất cuộc giành giật thuộc địa giữa các nước đế quốc. Nhưng dẫu sao, khu vực
này cũng đã bị lôi cuốn một cách cưỡng bức vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư
bản thế giới.
Như vậy, cho đến trước Cách mạng tháng Mười Nga, cả thế giới đã
vận hành ở những tầng cấp khác nhau, vị thế khác nhau trong vòng quay
của những quy luật tư bản chủ nghĩa.
*
**
Có nhiều ý kiến khác nhau trong việc phân định mốc mở đầu và kết
thúc của thời kỳ lịch sử thế giới cận đại. Thực ra, lịch sử phát triển liên tục
mà sự phân kỳ chỉ có tính chất quy ước, mỗi người theo một quan điểm
khác nhau trong việc chọn lựa. Hơn thế nữa, sự vận động lịch sử không
diễn ra đồng đều trên tất cả các nước và các khu vực, mốc thời gian phù
hợp với nơi này lại không thích ứng với nơi khác.
Tuy vậy, trong khuôn khổ giáo trình đại học, việc định mốc phân kỳ dù chỉ coi như quy ước - vẫn là điều cần thiết. Nằm trong toàn bộ quá trình
lịch sử từ cổ đến kim, thời kỳ cận đại xen vào giữa nên phải nhất quán với
phần giáo trình trước nó là lịch sử cổ trung đại và sau nó là lịch sử hiện
đại. Do vậy, trong giáo trình này, lịch sử thế giới cận đại được bắt đầu từ
cuộc cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII, kết thúc bởi cuộc cách mạng
XHCN tháng Mười Nga và Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đầu thế kỷ XX.
Ngay trong thời kỳ cận đại cũng khó có được một sự phân định rõ rệt thống
nhất chung cho cả phương Tây và phương Đông. Cho nên, để tiện cho việc
https://thuviensach.vn
học tập của anh chị em sinh viên, chúng tôi chia giáo trình này thành 2
phần :
Phần một: Lịch sử thế giới cận đại phương Tây.
Phần hai: Lịch sử thế giới cận đại phương Đông.
Lịch sử thế giới diễn biến theo một thể thống nhất, có mối liên hệ
khăng khít giữa các quốc gia, các khu vực và các châu lục. Các bài giảng
nên gọi mở cho sinh viên suy nghĩ trên bình diện tổng quát và phân tích tác
động qua lại giữa các sự kiện nhằm khắc phục những hạn chế của sự phân
chia tách bạch tạo nên.
*
**
Giáo trình lịch sử thế giới cận đại đã được sử dụng trong nhiều năm
để giảng dạy ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) và một số trường
đại học khác. Ý kiến của các giáo sư, các bạn dồng nghiệp cũng như nhiều
câu hỏi của sinh viên đã gợi mở cho chúng tôi những điều cần bổ sung, sửa
chữa cho mỗi lần xuất bản. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
đến tất cả các bạn đọc đã sử dụng và góp ý cho cuốn sách này. Chúng tôi
luôn chờ mong và đón nhận các ý kiến đóng góp cho cuốn sách ngày một
hoàn chỉnh.
CÁC TÁC GIẢ
https://thuviensach.vn
PHẦN MỘT: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI PHƯƠNG TÂY
https://thuviensach.vn
Chương I - CÁCH MẠNG TƯ SẢN
ANH GIỮA THẾ KỶ XVII
Cuộc cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII là một trận tấn
công vào thành trì của chế độ cũ để xây dựng chế độ xã hội mới,
lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, mở đường cho sức
sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Cách mạng Anh là cuộc
cách mạng tư sản thứ hai trên thế giới sau cách mạng Hà Lan thế
kỷ XVI, nhưng lại là cuộc cách mạng đầu tiên có ý nghĩa lớn đối
với quá trình hình thành CNTB trên phạm vi toàn châu Âu và thế
giới.
I - NƯỚC ANH ĐÊM TRƯỚC CỦA CUỘC
CÁCH MẠNG
1. Những tiền đề kinh tế của cuộc cách mạng
Sự phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa
Từ thế kỷ XVI, các ngành công nghiệp ở Anh phát triển mạnh. Những
phát minh mới về kỹ thuật, nhất là những hình thức tổ chức mới trong lao
động đã làm cho năng suất lao động ngày càng tăng.
Việc áp dụng máy bơm hơi nước từ các hầm mỏ lên, thúc đẩy sự phát
triển công nghiệp khai mỏ. Trong khoảng 100 năm (1551-1651) số lượng
than khai thác tăng lên 14 lần, mỗi năm đạt 3 triệu tấn. Đến giữa thế kỷ
XVII, Anh sản xuất 4/5 sản lượng than đá toàn châu Âu. Cũng trong thời
gian đó, việc khai thác quặng sắt tăng hai lần, kẽm, đồng chì, muối tăng
https://thuviensach.vn
lên 6-8 lần. Việc dùng ống bễ thổi đã thúc đẩy nghề nấu sắt. Đầu thế kỷ
XVII, ở Anh có 800 lò, mỗi tuần sản xuất từ 3 đến 4 lần. Nghề đóng tầu,
sản xuất đồ gốm và kim khí cũng đạt được nhiều thành tựu lớn.
Đáng chú ý nhất là nghề dệt len dạ. Đó là một ngành sản xuất lâu đời
ở Anh và đến thế kỷ XVII đã lan rộng khắp toàn quốc. Một người nước
ngoài hồi đó phải thừa nhận rằng “Khắp cả vương quốc từ các thành phố
nhỏ cho đến nông thôn và ấp trại đều làm len dạ”. Giữa thế kỷ XVI, số
lượng len bán ra ngoài chiếm 80% toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của nước
Anh. Năm 1614, việc xuất cảng len nguyên sơ bị cấm. Nhờ đó, công nghiệp
chế biến len tăng lên mạnh mẽ và nước Anh trở thành nước cung cấp hàng
hóa bằng len cho các thị trường bên ngoài.
Bên cạnh các ngành công nghiệp cũ đã xuất hiện những ngành sản
xuất mới: bông, giấy, tơ lụa, thủy tinh, xà phòng…
Thương nghiệp Anh cũng đạt nhiều thành tựu to lớn. Thị trường dân
tộc được hình thành và các cơ sở kinh doanh của người nước ngoài dần dần
bị suy sụp. Thương nhân Anh mở rộng buôn bán với thị trường thế giới,
thành lập những công ty thương mại hoạt động từ Ban Tích đến châu Phi,
từ Trung Quốc đến châu Mỹ.
Các công ty lớn nối tiếng là: “Công ty châu Phi” (1553) buôn vàng,
ngà voi và nô lệ da đen; “Công ty Matxcơva” buôn bán dọc sông Vônga để
đi vào Ba Tư và Ấn Độ; “Công ty Phương Đông” (1579) liên lạc với các
nước ven biển Ban Tích, Na Uy, Thụy Điển, Ba Lan… “Công ty Tây Ban
Nha” (1577), “Công ty Thổ Nhĩ Kỳ (1581). Đến năm 1600, “Công ty Đông
Ấn Độ” được thành lập,đặt nhiều thương điếm ở Xurat, Madrat, Bengan
(Ấn Độ),cạnh tranh kịch liệt với thương nhân Hà Lan và Pháp.
Trung tâm mậu dịch và tài chính lớn của nước Anh là khu Xity (Luân
Đôn). Năm 1568, Sở giao dịch được thành lập, có ảnh hưởng không những
ở Anh mà cả ở châu Âu nữa. Đến thời kỳ cách mạng, sự lưu thông về ngoại
thương tăng lên gấp hai lần so với đầu thế kỷ XVII.
https://thuviensach.vn
Sự phát triển của ngoại thương đã thúc đẩy nhanh sự thay đổi công
nghiệp. Các ngành công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải… phát đạt tới
mức độ chưa từng có, tạo nên những yếu tố cách mạng trong lòng xã hội
phong kiến đang tan rã. Quan hệ sản xuất mới dần dần hình thành.
Ở nước Anh đã có những công trường tập trung với hàng trăm, hàng
ngàn người lao động làm thuê. Nhưng hình thức phổ biến nhất khi đó vẫn
là những công trường thủ công phân tán. Gặp nhiều khó khăn trong khi
phát triển kinh doanh ở các thành phố là nơi mà chế độ phường hội còn
thống trị, các chủ xưởng thường chuyển hướng về nông thôn. Họ phần
nhiều là chủ công trường thủ công kiêm chủ bao mua. Họ chuyên bán
nguyên liệu cho những người sản xuất hàng hóa nhỏ, phân phối vật liệu cho
các gia đình chế tạo rồi thu mua từng phần hoặc mua cả sản phẩm. Như
vậy, những người thợ thủ công vẫn ở ngay nhà mình, rải rác trong các thôn
xóm nhưng bị lệ thuộc vào nhà tư bản. Còn về phía chủ thì chỉ cần lập nên
một xưởng nhỏ để lắp hoặc sửa sang lần cuối cùng thứ hàng sắp đem bán.
Thường thường việc bán nguyên liệu và mua sản phẩm xen lẫn với việc cho
vay nặng lãi làm cho đời sống của thợ thủ công càng thêm bi đát, ngày làm
việc kéo dài, lương hạ thấp, bị phá sản và trở thành công nhân làm thuê.
Đồng thời, những người sản xuất hàng hóa nhỏ độc lập vẫn còn giữ
một vai trò khá lớn.
Sự phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa làm thay đổi bộ
mặt của nước Anh. Nhiều thành phố lớn mọc lên. Luân Đôn trở thành trung
tâm công thương nghiệp quan trọng nhất, có 20 vạn dân. Tuy nhiên, nước
Anh vào nửa thế kỷ XVII vẫn còn thua kém Hà Lan về các mặt công
nghiệp, thương nghiệp và hàng hải, luôn luôn gặp phải sự kình địch của các
thuyền buôn Hà Lan.
Tình trạng nông nghiệp và sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào
nông thôn
https://thuviensach.vn
Mặc dầu đã có một số thành tựu về công thương nghiệp, nước Anh
đầu thế kỷ XVII vẫn còn là một nước nông nghiệp. Trong số 5 triệu rưỡi cư
dân, chỉ có 1/5 ở thành thị, còn 4/5 vẫn ở nông thôn. Quan hệ sản xuất
phong kiến thống trị rất lâu đời trong nông thôn. Ruộng đất là tài sản của
quý tộc địa chủ. Nông dân cày cấy ruộng đất phải nộp tô cho địa chủ theo
kỳ hạn và theo mức quy định vĩnh viễn. Nông dân không được tự ý bán
hoặc trao đổi phần đất của mình mà chỉ truyền lại cho con cháu sau khi đã
nộp tô kế thừa và được địa chủ cho phép. Ngay cả những nông dân khá giả
tuy có một phần đất đai riêng, cũng vẫn phải nộp tô đại dịch cho địa chủ.
Về thân phận, mặc dầu được tuyên bố tự do, chế độ nông nô đã bãi bỏ,
nhưng địa chủ vẫn có quyền xét xử và quyền quản lý về hành chính đối với
những người sống trong trang viên, lãnh địa của họ. Ngoài phần đất của địa
chủ và nông dân chiếm làm tư hữu, còn có phần ruộng đất công xã như đất
hoang, rừng rú và đồng cỏ. Tất cả mọi người đều được sử dụng đất công xã
để chăn nuôi. Những nông dân nghèo khổ cũng phải sống nhờ vào phần đất
của công xã.
Tuy nhiên do sự phát triển của công nghiệp len dạ ngày càng mạnh,
nên nghề nuôi cừu trở thành nghề có lợi nhất. Địa chủ không thỏa mãn với
địa tô thu được của nông dân nên đều tăng nguồn thu nhập riêng bằng cách
tước đoạt ruộng đất mà nông dân đang cày cấy, rào ruộng đất riêng và cả
một phần ruộng đất của công xã, biến thành đồng cỏ chăn cừu và cấm súc
vật của nông dân vào. Nông dân không có chỗ trồng trọt và chăn nuôi, bị
đuổi hàng loạt ra khỏi ruộng đất, sống cuộc đời vô cùng khổ cực. Hồi thế
kỷ XVI, Tômát Morơ đã tả lại cảnh đó như sau: “Những con cừu xưa kia
ngoan ngoãn hiền hậu biết bao, bây giờ đều trở thành những con vật hung
hãn, tham lam. Cừu ăn thịt người, phá hoại ruộng vườn, nhà cửa và thành
thị”. Việc chuyển đồng lúa thành đồng cỏ để chăn cừu, hoặc nói cách khác,
quá trình “cừu ăn thịt người” đem lại hai hậu quả: số người tay trắng bị
tước đoạt ruộng đất, nghĩa là bị tách khỏi tư liệu sản xuất ngày càng đông,
trở thành một đội quân lao động của nền công nghiệp; số tiền tích lũy nhờ
việc bán lông cừu ngày càng nhiều trở thành nguồn tư bản, bỏ vào kinh
https://thuviensach.vn
doanh công thương nghiệp. Đó chính là quá trình tích lũy nguyên thủy, làm
tiền đề cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Anh. Mác viết: “… Cơ sở của
toàn bộ quá trình tiến triển này chính là sự tước đoạt ruộng đất của nông
dân chỉ được tiến hành triệt để ở nước Anh thôi; vì vậy trong sự phác họa
sau đây của chúng ta, tất nhiên là nước Anh sẽ giữ một địa vị bậc nhất”.[1]
Trên những mảnh đất còn tiếp tục canh tác nông nghiệp, địa chủ
thường không thỏa mãn với chế độ địa tô, muốn đuổi tá điền ra khỏi ruộng
đất, tiến hành rào đất và trao cho một số nhà tư bản kinh doanh theo
phương thức mới: lập trang trại, sử dụng lao động làm thuê, dùng phân bón
nhân tạo, cải tiến chế độ luân canh, dùng máy gieo hạt và các công cụ khác.
Thu hoạch trên những miếng đất đó thường nhiều gấp 3, 4 lần thu hoạch
trên những mảnh ruộng cày cấy theo phương pháp cũ, làm nảy sinh ra một
tầng lớp trại chủ giàu có.
2. Sự phân bố giai cấp trong xã hội
Sự phân hóa trong hàng ngũ quý tộc
Đặc điểm của sự phát triển kinh tế ở nước Anh có ảnh hưởng quyết
định đến sự phân bố lực lượng giữa các giai cấp trong xã hội.
Quý tộc lớp trên, quý tộc miền Tây và miền Bắc sống chủ yếu bằng
cách thu địa tô phong kiến, dựa vào quyền sở hữu ruộng đất và phương
pháp bóc lột phong kiến. Họ thường chiếm địa vị cao trong xã hội, sống
cuộc đời xa hoa, thường tụ tập xung quanh nhà vua, trông chờ sự trợ cấp và
uy thế của nhà vua. Cho nên, tầng lớp quý tộc cũ gắn liền vận mệnh với chế
độ quân chủ chuyên chế, cố bảo vệ trật tự phong kiến và được sự ủng hộ
của phong kiến nước ngoài. Đó là thế lực phản động nhất, ngoan cố chống
đối cách mạng; trở thành đối tượng của cách mạng.
Một phần quý tộc, chủ yếu là trung và tiểu quý tộc, chuyển sang kinh
doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa và gọi là quý tộc mới tức là quý
tộc tư sản hóa. Họ chính là kẻ hung hăng nhất trong những vụ rào đất, đuổi
https://thuviensach.vn
nông dân và biến ruộng vườn thành đồng cỏ. Mác viết: “biến đồng ruộng
thành đồng cỏ, đó là khẩu hiệu chiến đấu của lớp quý tộc mới”.[2] Đế tăng
thêm lợi nhuận, quý tộc mới tham gia cả những công việc kinh doanh khác
như buôn bán len dạ hoặc pho-mát, nấu rượu hoặc luyện kim… Ngược lại,
thương nhân giàu có hay những nhà tài chính, nhà công nghiệp cũng có thể
bước vào hàng ngũ quý tộc mới bằng con đường mua và kinh doanh ruộng
đất.
Thế lực kinh tế của quý tộc mới rất mạnh mẽ. Năm 1600, số thu nhập
của tầng lớp này nhiều hơn tổng số thu nhập của quý tộc và giáo chủ cộng
lại. Trong khoảng từ 1561 đến 1640, khi ruộng đất nhà vua giảm xuống
75% thì trái lại, ruộng đất thuộc quyền chiếm hữu của quý tộc mới tăng
20%.
Như vậy ưu thế về kinh tế của quý tộc mới là hậu quả trực tiếp của
chiều hướng sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông thôn nước Anh. Bộ phận
quý tộc mới hình thành, về mặt xã hội, trở thành một giai cấp đặc biệt gắn
quyền lợi với giai cấp tư sản. Nguyện vọng của nó là muốn biến quyền
chiếm hữu ruộng đất hiện có thành quyền sở hữu tư sản, hoàn toàn thoát
khỏi sự ràng buộc của chế độ phong kiến. Ngược lại, chế độ phong kiến
tăng cường kiểm soát quyền chiếm hữu của quý tộc mới, bảo vệ chặt chẽ
những quyền lợi và ruộng đất của giai cấp quý tộc và giáo hội. Cho nên,
giai cấp tư sản dễ dàng liên minh với quý tộc mới để chống lại toàn bộ chế
độ phong kiến chuyên chế. Sự liên minh giữa quý tộc mới và tư sản trong
cuộc đấu tranh cách mạng là một đặc điểm nổi bật ở nước Anh giữa thế kỷ
XVII.
Nhưng đáng chú ý là cương lĩnh ruộng đất của quý tộc mới hoàn toàn
đối lập với nguyện vọng của nông dân. Trong khi nông dân muốn thủ tiêu
toàn bộ quyền tư hữu ruộng đất của các giai cấp bóc lột để người cày có
ruộng thì quý tộc mới chỉ muốn chuyển từ hình thức tư hữu phong kiến
sang hình thức tư hữu tư sản, vì vậy cuộc cách mạng tư sản Anh sẽ không
thể tiến tới chỗ thủ tiêu triệt để những tàn dư phong kiến mà chỉ dừng lại
https://thuviensach.vn
nửa đường, không giải phóng thực sự cho giai cấp nông dân, mang tính
chất bảo thủ.
Giai cấp tư sản
Đầu thế kỷ XVII, thành phần giai cấp tư sản Anh không đồng nhất.
Tầng lớp trên của nó gồm hàng trăm nhà đại công thương nghiệp, nắm
những công ty độc quyền lớn được tự do kinh doanh. Họ trở thành chủ nợ
của nhà vua và quý tộc phong kiến, có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Vì vậy,
tầng lớp này gắn chặt số mệnh với chế độ phong kiến, chủ trương duy trì
nhà vua và chế độ phong kiến, chỉ đòi hỏi một vài cải cách nhỏ để tăng
thêm quyền lực chính trị và ưu thế kinh tế mà thôi.
Tầng lớp đông đảo trong giai cấp tư sản là những thương nhân tự do,
chủ các công trường thủ công, những người kinh doanh ở thuộc địa. Họ có
thái độ thù địch với nhà vua vì những biện pháp duy trì phường hội, chế độ
độc quyền thương mại của triều đình ngăn cản sự phát triển kinh tế công
thương nghiệp của họ. Vì vậy, họ trở thành tầng lớp tư sản tích cực trong
cuộc đấu tranh chống phong kiến, trở thành lực lượng đại biểu cho phương
thức sản xuất mới chống lại phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu.
Giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác
Chế độ nông nô ở Anh đã sớm bị thủ tiêu, người nông dân có thân
phận tự do. Tuy nhiên, trong chế độ phong kiến, khi mà ruộng đất hoàn
toàn thuộc quyền sở hữu của nhà vua và quý tộc thì người nông dân vẫn
không thoát khỏi sự ràng buộc của chế độ phong kiến. Nông dân Anh bị
phân hóa thành những tầng lớp khác nhau: nông dân tự do (freeholder),
nông dân tá điền (copyholder) và cố nông (cotter).
Chiếm đa số trong nông thôn là tá điền từ 60 đến 75% nông dân. Họ là
thành phần cơ bản của nông dân Anh, và cũng là đối tượng chủ yếu của
những tham vọng bóc lột của bọn địa chủ quý tộc. Họ cày cấy trên mảnh
ruộng của địa chủ, thường được giữ trong khoảng 21 năm. Sau khi hết hạn,
https://thuviensach.vn
họ có thể tiếp tục canh tác hoặc bị đuổi ra khỏi mảnh ruộng. Mức địa tô
được quy định tuy không thay đổi, nhưng họ phải trả thêm nhiều món phụ
thu khác rất nặng nề. Khi nào muốn tăng thêm thời hạn canh tác hoặc
truyền ruộng lại cho con cháu, người tá điền phải nộp một món tiền rất lớn,
mức độ là do địa chủ quyết định. Họ còn phải đóng nhiều thứ thuế như thuế
xay lúa, thuế đồng cỏ, thuế rừng và nhiều nghĩa vụ, tạp dịch khác. Nhiều tá
điền bị buộc phải bỏ ruộng đất đi lang thang hoặc chịu làm người cấy rẽ
ngắn hạn, phải chấp nhận mọi điều kiện của địa chủ. Vì vậy, trừ một số tá
điền làm ăn khá giả, còn đại đa số là nghèo khổ, lao động vất vả mà không
đủ ăn. Họ trở thành bộ phận kiên quyết và lực lượng chủ yếu trong cuộc
cách mạng chống phong kiến.
Tầng lớp nông dân tự do có mảnh ruộng nhỏ bé riêng, không hoàn
toàn lệ thuộc vào địa chủ. Trừ một số ít trở nên giàu có, còn phần lớn làm
ăn vất vả, khó khăn và bị đe dọa phá sản, thậm chí trở thành tá điền. Vì vậy,
tầng lớp nông dân tự do cũng rất bất mãn với chế độ phong kiến, muốn xác
lập quyền tư hữu ruộng đất hoàn toàn thuộc về mình, tránh khỏi sự đe dọa
cướp đất của bọn quý tộc địa chủ.
Bộ phận cùng cực nhất trong nông thôn Anh là những người cố nông
chiếm khoảng 40 vạn. Họ hoàn toàn không có đất, buộc phải đi làm thuê
trở thành công nhân nông nghiệp hoặc công nhân trong các công trường thủ
công. Họ chịu hai tầng áp bức của quý tộc phong kiến và tư sản. Cuộc đời
của họ theo hình ảnh của một nhà văn đương thời, là “sự luân phiên giữa
đấu tranh và khổ nhục không ngừng”. Cho nên, họ nêu lên những khẩu hiệu
cương quyết: “Hãy giết sạch bọn quý tộc và tiêu diệt hết bọn nhà giàu”. Họ
là nạn nhân của những vụ rào đất, đuổi nhà, phải đi lang thang đây đó, sống
trong cánh tối tăm và đói khổ. Do đó, họ có thái độ kiên quyết và đóng một
vai trò đáng kể trong những cuộc khởi nghĩa nông dân suốt thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII và trong cuộc cách mạng sau này.
3. Tiền đề tư tưởng của cuộc cách mạng
https://thuviensach.vn
Cùng với sự phát triển của những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa,
tư tưởng tư sản ra đời và dần dần hình thành từ trong lòng chế độ phong
kiến. Trong hoàn cảnh nước Anh, một trong những nước đầu tiên đang ở
quá trình tan rã của chế độ phong kiến, ảnh hưởng của thời kỳ trung cổ còn
nặng nề thì luồng tư tưởng mới không biểu hiện hoàn toàn thuần túy, công
khai, mà phải khoác một bộ áo tôn giáo. Cái áo đó chính là Thanh giáo
chống lại tôn giáo cũ là Anh giáo. Anh giáo dựa trên cơ sở lý thuyết của
đạo Cơ đốc, nhưng về tổ chức thì tách khỏi giáo hội La Mã. Người đứng
đầu giáo hội Anh là vua Anh. vì vậy, Anh giáo được sử dụng như công cụ
thống trị tinh thần của giai cấp phong kiến.
Cuộc đấu tranh giữa Thanh giáo và Anh giáo là cuộc đấu tranh tôn
giáo, nhưng thực chất, nó phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng
tư sản và phong kiến, cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Anh, khi mà chế
độ phong kiến đang suy tàn và chủ nghĩa tư bản đang vươn lên.
Giáo lý của Thanh giáo là chủ nghĩa Canvanh được du nhập vào nước
Anh. Họ tin tưởng vào học thuyết định mệnh và theo đó, Thượng đế trao
cho những nhà tư sản trách nhiệm phát triển công thương nghiệp. Họ loại
khỏi nhà thờ những nghi lễ phiền toái, bài bác những đồ trang sức, bàn thờ
và gương mầu, chống việc đọc kinh bằng sách thánh và chủ trương tự do
đọc bằng miệng theo sự ngẫu hứng. Họ đòi hỏi đơn giản hóa những sinh
hoạt thuộc về tôn giáo. Điều đó thể hiện tính chất tiến bộ của Thanh giáo so
với Anh giáo và phù hợp với yêu cầu của giai cấp tư sản là dành nhiều thời
gian và tiền bạc cho việc phát triển kinh doanh.
Nội bộ Thanh giáo bị phân hóa thành nhiều xu hướng khác nhau. Đại
tư sản giàu có, ít nhiều gắn quyền lợi với chế độ phong kiến, lên tiếng
chống đối giáo hội Anh nhưng không chủ trương cải cách triệt để. Họ
muốn thay thế giáo chủ bằng hội nghị của những người có tuổi và ngoan
đạo. Vì vậy, họ được gọi là phái Trưởng lão. Do địa vị kinh tế, thái độ của
phái Trưởng lão thường không kiên định, dễ thỏa hiệp với thế lực phong
kiến.
https://thuviensach.vn
Cánh tả của Thanh giáo hoàn toàn chống đối giáo hội Anh được gọi là
phái Độc lập. Họ bao gồm tư sản và quý tộc mới loại nhỏ và vừa, quyền lợi
kinh tế đối địch với chế độ phong kiến. Phái Độc lập phản đối chế độ giáo
chủ và cũng không tán thành hội nghị Trưởng lão vì họ cho rằng Trưởng
lão cũng chỉ là những giáo chủ mới mà thôi. Họ không thừa nhận một
quyền lực nào khác ngoài “quyền thiêng liêng của Thượng đế”, không gắn
mình vào một mệnh lệnh nào nếu nó mâu thuẫn với “chân lý tự nhiên”. Tổ
chức của Thanh giáo là những liên minh công xã, độc lập đối với nhau.
Mỗi công xã được quản lý theo ý nguyện của đa số. Phong trào của họ có
tính chất dân chủ rõ rệt hơn.
Trên cơ sở của Thanh giáo, những lý luận chính trị và hiến pháp được
ra đời trong cách mạng tư sản Anh. Quan trọng nhất là bản “Công ước xã
hội”. Bản công ước xác định quyền lực tối cao của nhà vua là do nhân dân
ủy nhiệm, vì vậy, nhà vua phải lãnh đạo đất nước sao cho phù hợp với lợi
ích của nhân dân, và chỉ có như vậy mới đứng vững được. Nếu không, ông
ta sẽ bị coi là “bạo quân” và sẽ bị nhân dân tước đoạt những quyền hạn
được trao khi trước. Từ đó, một số người cấp tiến rút ra kết luận là nhân
dân cần phải đứng dậy chống lại những vua chuyên chế và thậm chí có thể
kết tội tử hình. Những đại biểu nổi tiếng của luồng tư tưởng này ở nước
Anh vào thế kỷ XVI-XVII là Giôn Pônét, Xpenxơ, Giôn Mintơn… Họ
chính là những người tham gia tích cực vào công việc chuẩn bị tư tưởng
cho cuộc cách mạng sắp sửa bùng nổ.
4. Chế độ quân chủ chuyên chế Xchiua (Stuart) và những mâu
thuẫn trong lòng nó
Chế độ quân chủ chuyên chế ở nước Anh
Đến giữa thế kỷ XVII, nước Anh vẫn là một quốc gia phong kiến quân
chủ chuyên chế. Vua là người sở hữu ruộng đất trong toàn quốc, ban cấp
cho các chư hầu và thuộc hạ. Các quý tộc thân thuộc và chư hầu hàng năm
phải nộp tô thuế và cống vật cho nhà vua.
https://thuviensach.vn
Vua nắm trong tay mọi cơ quan cao cấp cai trị đất nước. Đóng vai trò
quan trọng trong các cơ quan đó là Hội đồng cơ mật. Thành viên của Hội
đồng gồm những nhà quý tộc nổi tiếng nhất do vua chỉ định và trở thành
những cố vấn của vua. Vua có quyền kiểm tra các hoạt động tư pháp, hành
pháp và các công việc của nhà thờ. Vua còn là người đứng đầu giáo hội
Anh, nắm trong tay vương quyền lẫn thần quyền.
Tuy nhiên, ngoài tiền tô thuế của các chư hầu, nhà vua không còn
khoản thu nhập nào khác để bù đắp sự ăn tiêu phung phí và bừa bãi. Cho
nên cung đình luôn luôn rơi vào tình trạng túng thiếu. Vương quốc cũng
không có quân đội thường trực. Những điều kiện đó làm cho quyền hành
của nhà vua phần nào bị hạn chế bởi nghị viện. Nghị viện là tổ chức đại
diện cho các tầng lớp phong kiến, có quyền tán thành hay phản đối việc ban
hành thuế khóa. Dần dần, khi chính quyền nhà vua được củng cố thì nghị
viện bị tước đoạt một số quyền đáng kể và những quyền hành đó ở trong
tay tầng lớp quý tộc có đặc quyền. Những việc ban hành chế độ thuế khóa
và ngân sách chi tiêu cho quân đội vẫn là công việc của nghị viện.
Nghị viện ở Anh thành lập từ thế kỷ XIII, bao gồm hai viện: thượng
viện (hay viện nguyên lão) và hạ viện (hay viện dân biểu). Thượng viện là
cơ quan có quyền khởi thảo pháp luật cao nhất và cũng là chỗ dựa chắc
chắn nhất của vua. Chính vua là người chủ trì viện. Nghị viên do vua chỉ
định được quyền kế thừa, cha truyền con nối. Hạ viện đại diện quyền lợi
của quý tộc thấp hơn gồm các chủ ruộng đất được lựa chọn qua những cuộc
bầu cử rất nghiêm ngặt. Đến giữa thế kỷ XVII, thành phần của hạ viện có
thay đổi, đa số là quý tộc mới. Tầng lớp này có ảnh hưởng rất lớn vì có thế
lực kinh tế hùng hậu, có quyền thông qua các đạo luật về thuế khóa và nhờ
đó kiểm soát được việc chi tiêu của nhà vua và chính phủ. Vì vậy, hạ viện
sẽ trở thành nơi đấu tranh gay gắt của thế lực mới, tiến bộ chống lại vua và
tập đoàn phong kiến phản động.
Nghị viện được triệu tập theo ý muốn của vua và các đạo luật chỉ có
hiệu lực sau khi đã được vua phê chuẩn. Vua có quyền giải tán nghị viện
theo ý riêng của mình nhưng lại không hoàn toàn không cần đến nó. Vì vậy,
https://thuviensach.vn
đến đầu thế kỷ XVII giữa vua và nghị viện, hay nói đúng ra là giữa thế lực
phong kiến và thế lực tư sản luôn luôn có sự xung đột gay gắt xoay quanh
các chính sách lớn, đặc biệt là vấn đề tài chính.
Năm 1603, nữ hoàng Êlidabét chết, không có con nối ngôi, chấm dứt
thời kỳ thống trị của vương triều Tuyđo (Tudors). Người kế vị là Jêm I mở
đầu triều đại Xchiua ở nước Anh.
Chính sách phản động của vương triều Xchiua
Tình thế cách mạng chín mùi
Sau khi lên ngôi, Jêm I (1566-1625) và tiếp theo đó là Sáclơ I (16001649) đại diện cho quyền lợi của quý tộc phong kiến chống lại quyền lợi
của giai cấp tư sản, quý tộc mới và quần chúng nhân dân. Không đếm xỉa
tới sự đổi mới của tình hình, các vua triều đại Xchiua vẫn ngoan cố bảo vệ
các đặc quyền phong kiến và ra sức củng cố ngai vàng. Bất chấp khát vọng
của giai cấp tư sản muốn tự do kinh doanh, triều đình thi hành chế độ độc
quyền trong sản xuất, ngoại thương và một phần nội thương; đặt ra những
quy chế rất chặt chẽ để kiểm soát các ngành công nghiệp; đàn áp và trục
xuất tín đồ Thanh giáo; kết thân với triều đình Tây Ban Nha là kẻ cạnh
tranh nguy hiểm của giai cấp tư sản Anh; tiến hành chiến tranh đẫm máu
đối với nhân dân Xcốtlen… Trước những hành động đó, đông đảo quần
chúng nhân dân đứng dậy đấu tranh. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất khi đó diễn
ra vào năm 1607 ở những vùng trung tâm nước Anh, lôi cuốn tới 8.000
người tham gia. Vũ trang bằng dáo mác và liềm hái, họ nêu lên khẩu hiệu
“Thà chết dũng cảm còn hơn phải mòn mòi vì nghèo đói”, đấu tranh tiêu
diệt bọn chủ rào đất là kẻ đã biến họ thành người nghèo khổ, chết chóc vì
thiếu thốn.
Từ cuộc đấu tranh này xuất hiện hai phái “San bằng” và “Đào đất” lực lượng cách mạng của quần chúng có ảnh hưởng tích cực đến tình hình
chính trị ở Anh sau này.
https://thuviensach.vn
Cuộc đấu tranh gay gắt giữa nhà vua và thế lực tư sản quý tộc mới
diễn ra trong nghị viện, xoay quanh vấn đề tài chính. Cần tiền chi tiêu cho
những cuộc chiến tranh ăn cướp ở Xcốtlen, Ailen và cho việc phung phí
trong triều đình, nhà vua nhiều lần triệu tập nghị viện để đề nghị thông qua
luật tăng thuế và ban hành t...
Lịch sử Thế giới cận đại
—★—
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà xuất bản: NXB Giáo dục
Người tạo ebook: Nhật Nguyễn
Ngày hoàn thành: 23/02/2019
Ebook được chia sẻ với mục đích phi lợi nhuận
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Nội dung cơ bản của thời kỳ lịch sử cận đại là sự chuyển biến từ chế
độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, sự xác lập phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới.
Những cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và Bắc Mỹ (giữa thế kỷ XVI giữa thế kỷ XIX) đã từng bước thiết lập hệ thống chính trị tư sản trong các
quốc gia phát triển (Anh, Mỹ, Pháp, Đức) rồi lan tỏa ảnh hưởng ra các
nước trên những mức độ khác nhau ở châu Âu, châu Mỹ latinh và châu Á.
Cùng với sự hình thành bộ máy nhà nước tư sản là sự xuất hiện các trào
lưu tư tưởng về quyền con người và quyền công dân; các học thuyết về thể
chế chính trị và quyền tự do dân chủ, nổi bật nhất là Triết học Ánh sáng;
các dòng văn học lãng mạn và hiện thực phản ánh cuộc vận động lớn lao
đó.
Thời kỳ này còn được đánh dấu bởi cuộc cách mạng công nghiệp, mở
đầu bằng việc phát minh và sử dụng máy hơi nước vào sản xuất ở nước
Anh cuối thế kỷ XVIII. Một quá trình công nghiệp hóa diễn ra rầm rộ ở
châu Âu đã làm thay đổi cách thức sản xuất từ lao động bằng tay, sang sử
dụng máy móc và từng bước hình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn
chỉnh; từ sản xuất quy mô nhỏ lên quy mô lớn với sự ra đời của các nhà
máy và các khu công nghiệp, khiến cho loài người trong vòng chưa đầy một
trăm năm, có thể sáng tạo nên một lực lượng vật chất to lớn hơn và đồ sộ
hơn tất cả các thế hệ trước cộng lại, theo đánh giá của C.Mác và
Ph.Ăngghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Chính những thành
tựu kinh tế và kỹ thuật ấy đã khẳng định ưu thế của chế độ tư bản đối với
chế độ phong kiến, đã tạo nên một bước ngoặt cơ bản “từ làn sóng văn
https://thuviensach.vn
minh nông nghiệp sang làn sóng văn minh công nghiệp” theo cách diễn dạt
của nhà tương lai học A.Toffler.
Kết quả ấy dẫn tới những biến động lớn lao về đời sống xã hội với sự
tăng dân số, sự phát triển đô thị, sự pháp lý hóa chế độ gia đình một chồng
một vợ và điều quan trọng là sự hình thành các giai cấp xã hội mới.
Giai cấp tư sản công thương nghiệp và giai cấp vô sản công nghiệp hệ quả tất yếu của cách mạng công nghiệp - trở thành hai giai cấp cơ bản
của xã hội tư bản chủ nghĩa, có mối liên hệ khăng khít trong guồng máy
sản xuất của nền kinh tế, đồng thời ẩn chứa mối mâu thuẫn cơ bản về
quyền lợi giữa những người thống trị và những người bị trị, giữa tư sản và
vô sản. Từ trong sự đối lập dai dẳng ấy đã hình thành trào lưu tư tưởng xã
hội chủ nghĩa tiền công nghiệp (Morơ, Mêliê, Babớp…) trào lưu xã hội chủ
nghĩa không tưởng Pháp (Xanh Ximông, Phuariê…) cho đến chủ nghĩa xã
hội khoa học của Mác và Ăngghen. Những cuộc đấu tranh tiếp diễn về mặt
ý thức hệ cũng như về mặt tổ chức (Quốc tế I, Quốc tế II) trở thành một
trong những nét quan trọng của lịch sử phong trào công nhân quốc tế, đi từ
học thuyết Mac đến học thuyết Lênin, từ cuộc thủ nghiệm Công xã Pari
(1871) đến thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917).
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với quá trình thực dân
hóa ở các châu lục chậm phát triển. Từ các thuộc địa của người Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha trong thời kỳ phát kiến địa lý (cuối thế kỷ XV) đến hệ
thống thuộc địa rộng lớn của người Anh, người Pháp… thì vào cuối thế kỷ
XIX hầu như trên hành tinh không còn vùng “đất trống”, nghĩa là không
nơi nào không bị người phương Tây xâm lược và thống trị.
Các nước châu Á, châu Phi không đứng vững được trước làn sóng
thôn tính ào ạt của phương Tây có trình độ kinh tế cao hơn và trang bị kỹ
thuật quân sự tối tân hơn nên lần lượt trở thành các thuộc địa và phụ
thuộc. Riêng Nhật Bản, với cuộc Duy Tân Minh Trị (1868) đã vượt qua
được thử thách đó, giữ vững chủ quyền, vươn lên thành một nước tư bản và
bước vào hàng ngũ đế quốc. Thành công của Nhật Bản gây nên tiếng vang
https://thuviensach.vn
lớn, thúc đẩy phong trào tư sản mới xuất hiện yếu ớt ở một số quốc gia
châu Á. Người Trung Hoa thất bại trong việc áp dụng kinh nghiệm duy tân
trong cuộc vận động năm Mậu Tuất (1898) đã tìm con đường cách mạng
với học thuyết Tam Dân của Tôn Trung Sơn, dẫn đến cuộc cách mạng Tân
Hợi (1911) nhưng phải dừng lại nửa chừng. Sự chọn lựa giữa hai khả năng
cải lương và cách mạng của các nhà yêu nước phương Đông đã không đem
lại kết quả gì khi thế giới bước vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất cuộc giành giật thuộc địa giữa các nước đế quốc. Nhưng dẫu sao, khu vực
này cũng đã bị lôi cuốn một cách cưỡng bức vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư
bản thế giới.
Như vậy, cho đến trước Cách mạng tháng Mười Nga, cả thế giới đã
vận hành ở những tầng cấp khác nhau, vị thế khác nhau trong vòng quay
của những quy luật tư bản chủ nghĩa.
*
**
Có nhiều ý kiến khác nhau trong việc phân định mốc mở đầu và kết
thúc của thời kỳ lịch sử thế giới cận đại. Thực ra, lịch sử phát triển liên tục
mà sự phân kỳ chỉ có tính chất quy ước, mỗi người theo một quan điểm
khác nhau trong việc chọn lựa. Hơn thế nữa, sự vận động lịch sử không
diễn ra đồng đều trên tất cả các nước và các khu vực, mốc thời gian phù
hợp với nơi này lại không thích ứng với nơi khác.
Tuy vậy, trong khuôn khổ giáo trình đại học, việc định mốc phân kỳ dù chỉ coi như quy ước - vẫn là điều cần thiết. Nằm trong toàn bộ quá trình
lịch sử từ cổ đến kim, thời kỳ cận đại xen vào giữa nên phải nhất quán với
phần giáo trình trước nó là lịch sử cổ trung đại và sau nó là lịch sử hiện
đại. Do vậy, trong giáo trình này, lịch sử thế giới cận đại được bắt đầu từ
cuộc cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII, kết thúc bởi cuộc cách mạng
XHCN tháng Mười Nga và Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đầu thế kỷ XX.
Ngay trong thời kỳ cận đại cũng khó có được một sự phân định rõ rệt thống
nhất chung cho cả phương Tây và phương Đông. Cho nên, để tiện cho việc
https://thuviensach.vn
học tập của anh chị em sinh viên, chúng tôi chia giáo trình này thành 2
phần :
Phần một: Lịch sử thế giới cận đại phương Tây.
Phần hai: Lịch sử thế giới cận đại phương Đông.
Lịch sử thế giới diễn biến theo một thể thống nhất, có mối liên hệ
khăng khít giữa các quốc gia, các khu vực và các châu lục. Các bài giảng
nên gọi mở cho sinh viên suy nghĩ trên bình diện tổng quát và phân tích tác
động qua lại giữa các sự kiện nhằm khắc phục những hạn chế của sự phân
chia tách bạch tạo nên.
*
**
Giáo trình lịch sử thế giới cận đại đã được sử dụng trong nhiều năm
để giảng dạy ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) và một số trường
đại học khác. Ý kiến của các giáo sư, các bạn dồng nghiệp cũng như nhiều
câu hỏi của sinh viên đã gợi mở cho chúng tôi những điều cần bổ sung, sửa
chữa cho mỗi lần xuất bản. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
đến tất cả các bạn đọc đã sử dụng và góp ý cho cuốn sách này. Chúng tôi
luôn chờ mong và đón nhận các ý kiến đóng góp cho cuốn sách ngày một
hoàn chỉnh.
CÁC TÁC GIẢ
https://thuviensach.vn
PHẦN MỘT: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CẬN ĐẠI PHƯƠNG TÂY
https://thuviensach.vn
Chương I - CÁCH MẠNG TƯ SẢN
ANH GIỮA THẾ KỶ XVII
Cuộc cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII là một trận tấn
công vào thành trì của chế độ cũ để xây dựng chế độ xã hội mới,
lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, mở đường cho sức
sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Cách mạng Anh là cuộc
cách mạng tư sản thứ hai trên thế giới sau cách mạng Hà Lan thế
kỷ XVI, nhưng lại là cuộc cách mạng đầu tiên có ý nghĩa lớn đối
với quá trình hình thành CNTB trên phạm vi toàn châu Âu và thế
giới.
I - NƯỚC ANH ĐÊM TRƯỚC CỦA CUỘC
CÁCH MẠNG
1. Những tiền đề kinh tế của cuộc cách mạng
Sự phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa
Từ thế kỷ XVI, các ngành công nghiệp ở Anh phát triển mạnh. Những
phát minh mới về kỹ thuật, nhất là những hình thức tổ chức mới trong lao
động đã làm cho năng suất lao động ngày càng tăng.
Việc áp dụng máy bơm hơi nước từ các hầm mỏ lên, thúc đẩy sự phát
triển công nghiệp khai mỏ. Trong khoảng 100 năm (1551-1651) số lượng
than khai thác tăng lên 14 lần, mỗi năm đạt 3 triệu tấn. Đến giữa thế kỷ
XVII, Anh sản xuất 4/5 sản lượng than đá toàn châu Âu. Cũng trong thời
gian đó, việc khai thác quặng sắt tăng hai lần, kẽm, đồng chì, muối tăng
https://thuviensach.vn
lên 6-8 lần. Việc dùng ống bễ thổi đã thúc đẩy nghề nấu sắt. Đầu thế kỷ
XVII, ở Anh có 800 lò, mỗi tuần sản xuất từ 3 đến 4 lần. Nghề đóng tầu,
sản xuất đồ gốm và kim khí cũng đạt được nhiều thành tựu lớn.
Đáng chú ý nhất là nghề dệt len dạ. Đó là một ngành sản xuất lâu đời
ở Anh và đến thế kỷ XVII đã lan rộng khắp toàn quốc. Một người nước
ngoài hồi đó phải thừa nhận rằng “Khắp cả vương quốc từ các thành phố
nhỏ cho đến nông thôn và ấp trại đều làm len dạ”. Giữa thế kỷ XVI, số
lượng len bán ra ngoài chiếm 80% toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của nước
Anh. Năm 1614, việc xuất cảng len nguyên sơ bị cấm. Nhờ đó, công nghiệp
chế biến len tăng lên mạnh mẽ và nước Anh trở thành nước cung cấp hàng
hóa bằng len cho các thị trường bên ngoài.
Bên cạnh các ngành công nghiệp cũ đã xuất hiện những ngành sản
xuất mới: bông, giấy, tơ lụa, thủy tinh, xà phòng…
Thương nghiệp Anh cũng đạt nhiều thành tựu to lớn. Thị trường dân
tộc được hình thành và các cơ sở kinh doanh của người nước ngoài dần dần
bị suy sụp. Thương nhân Anh mở rộng buôn bán với thị trường thế giới,
thành lập những công ty thương mại hoạt động từ Ban Tích đến châu Phi,
từ Trung Quốc đến châu Mỹ.
Các công ty lớn nối tiếng là: “Công ty châu Phi” (1553) buôn vàng,
ngà voi và nô lệ da đen; “Công ty Matxcơva” buôn bán dọc sông Vônga để
đi vào Ba Tư và Ấn Độ; “Công ty Phương Đông” (1579) liên lạc với các
nước ven biển Ban Tích, Na Uy, Thụy Điển, Ba Lan… “Công ty Tây Ban
Nha” (1577), “Công ty Thổ Nhĩ Kỳ (1581). Đến năm 1600, “Công ty Đông
Ấn Độ” được thành lập,đặt nhiều thương điếm ở Xurat, Madrat, Bengan
(Ấn Độ),cạnh tranh kịch liệt với thương nhân Hà Lan và Pháp.
Trung tâm mậu dịch và tài chính lớn của nước Anh là khu Xity (Luân
Đôn). Năm 1568, Sở giao dịch được thành lập, có ảnh hưởng không những
ở Anh mà cả ở châu Âu nữa. Đến thời kỳ cách mạng, sự lưu thông về ngoại
thương tăng lên gấp hai lần so với đầu thế kỷ XVII.
https://thuviensach.vn
Sự phát triển của ngoại thương đã thúc đẩy nhanh sự thay đổi công
nghiệp. Các ngành công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải… phát đạt tới
mức độ chưa từng có, tạo nên những yếu tố cách mạng trong lòng xã hội
phong kiến đang tan rã. Quan hệ sản xuất mới dần dần hình thành.
Ở nước Anh đã có những công trường tập trung với hàng trăm, hàng
ngàn người lao động làm thuê. Nhưng hình thức phổ biến nhất khi đó vẫn
là những công trường thủ công phân tán. Gặp nhiều khó khăn trong khi
phát triển kinh doanh ở các thành phố là nơi mà chế độ phường hội còn
thống trị, các chủ xưởng thường chuyển hướng về nông thôn. Họ phần
nhiều là chủ công trường thủ công kiêm chủ bao mua. Họ chuyên bán
nguyên liệu cho những người sản xuất hàng hóa nhỏ, phân phối vật liệu cho
các gia đình chế tạo rồi thu mua từng phần hoặc mua cả sản phẩm. Như
vậy, những người thợ thủ công vẫn ở ngay nhà mình, rải rác trong các thôn
xóm nhưng bị lệ thuộc vào nhà tư bản. Còn về phía chủ thì chỉ cần lập nên
một xưởng nhỏ để lắp hoặc sửa sang lần cuối cùng thứ hàng sắp đem bán.
Thường thường việc bán nguyên liệu và mua sản phẩm xen lẫn với việc cho
vay nặng lãi làm cho đời sống của thợ thủ công càng thêm bi đát, ngày làm
việc kéo dài, lương hạ thấp, bị phá sản và trở thành công nhân làm thuê.
Đồng thời, những người sản xuất hàng hóa nhỏ độc lập vẫn còn giữ
một vai trò khá lớn.
Sự phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa làm thay đổi bộ
mặt của nước Anh. Nhiều thành phố lớn mọc lên. Luân Đôn trở thành trung
tâm công thương nghiệp quan trọng nhất, có 20 vạn dân. Tuy nhiên, nước
Anh vào nửa thế kỷ XVII vẫn còn thua kém Hà Lan về các mặt công
nghiệp, thương nghiệp và hàng hải, luôn luôn gặp phải sự kình địch của các
thuyền buôn Hà Lan.
Tình trạng nông nghiệp và sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào
nông thôn
https://thuviensach.vn
Mặc dầu đã có một số thành tựu về công thương nghiệp, nước Anh
đầu thế kỷ XVII vẫn còn là một nước nông nghiệp. Trong số 5 triệu rưỡi cư
dân, chỉ có 1/5 ở thành thị, còn 4/5 vẫn ở nông thôn. Quan hệ sản xuất
phong kiến thống trị rất lâu đời trong nông thôn. Ruộng đất là tài sản của
quý tộc địa chủ. Nông dân cày cấy ruộng đất phải nộp tô cho địa chủ theo
kỳ hạn và theo mức quy định vĩnh viễn. Nông dân không được tự ý bán
hoặc trao đổi phần đất của mình mà chỉ truyền lại cho con cháu sau khi đã
nộp tô kế thừa và được địa chủ cho phép. Ngay cả những nông dân khá giả
tuy có một phần đất đai riêng, cũng vẫn phải nộp tô đại dịch cho địa chủ.
Về thân phận, mặc dầu được tuyên bố tự do, chế độ nông nô đã bãi bỏ,
nhưng địa chủ vẫn có quyền xét xử và quyền quản lý về hành chính đối với
những người sống trong trang viên, lãnh địa của họ. Ngoài phần đất của địa
chủ và nông dân chiếm làm tư hữu, còn có phần ruộng đất công xã như đất
hoang, rừng rú và đồng cỏ. Tất cả mọi người đều được sử dụng đất công xã
để chăn nuôi. Những nông dân nghèo khổ cũng phải sống nhờ vào phần đất
của công xã.
Tuy nhiên do sự phát triển của công nghiệp len dạ ngày càng mạnh,
nên nghề nuôi cừu trở thành nghề có lợi nhất. Địa chủ không thỏa mãn với
địa tô thu được của nông dân nên đều tăng nguồn thu nhập riêng bằng cách
tước đoạt ruộng đất mà nông dân đang cày cấy, rào ruộng đất riêng và cả
một phần ruộng đất của công xã, biến thành đồng cỏ chăn cừu và cấm súc
vật của nông dân vào. Nông dân không có chỗ trồng trọt và chăn nuôi, bị
đuổi hàng loạt ra khỏi ruộng đất, sống cuộc đời vô cùng khổ cực. Hồi thế
kỷ XVI, Tômát Morơ đã tả lại cảnh đó như sau: “Những con cừu xưa kia
ngoan ngoãn hiền hậu biết bao, bây giờ đều trở thành những con vật hung
hãn, tham lam. Cừu ăn thịt người, phá hoại ruộng vườn, nhà cửa và thành
thị”. Việc chuyển đồng lúa thành đồng cỏ để chăn cừu, hoặc nói cách khác,
quá trình “cừu ăn thịt người” đem lại hai hậu quả: số người tay trắng bị
tước đoạt ruộng đất, nghĩa là bị tách khỏi tư liệu sản xuất ngày càng đông,
trở thành một đội quân lao động của nền công nghiệp; số tiền tích lũy nhờ
việc bán lông cừu ngày càng nhiều trở thành nguồn tư bản, bỏ vào kinh
https://thuviensach.vn
doanh công thương nghiệp. Đó chính là quá trình tích lũy nguyên thủy, làm
tiền đề cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Anh. Mác viết: “… Cơ sở của
toàn bộ quá trình tiến triển này chính là sự tước đoạt ruộng đất của nông
dân chỉ được tiến hành triệt để ở nước Anh thôi; vì vậy trong sự phác họa
sau đây của chúng ta, tất nhiên là nước Anh sẽ giữ một địa vị bậc nhất”.[1]
Trên những mảnh đất còn tiếp tục canh tác nông nghiệp, địa chủ
thường không thỏa mãn với chế độ địa tô, muốn đuổi tá điền ra khỏi ruộng
đất, tiến hành rào đất và trao cho một số nhà tư bản kinh doanh theo
phương thức mới: lập trang trại, sử dụng lao động làm thuê, dùng phân bón
nhân tạo, cải tiến chế độ luân canh, dùng máy gieo hạt và các công cụ khác.
Thu hoạch trên những miếng đất đó thường nhiều gấp 3, 4 lần thu hoạch
trên những mảnh ruộng cày cấy theo phương pháp cũ, làm nảy sinh ra một
tầng lớp trại chủ giàu có.
2. Sự phân bố giai cấp trong xã hội
Sự phân hóa trong hàng ngũ quý tộc
Đặc điểm của sự phát triển kinh tế ở nước Anh có ảnh hưởng quyết
định đến sự phân bố lực lượng giữa các giai cấp trong xã hội.
Quý tộc lớp trên, quý tộc miền Tây và miền Bắc sống chủ yếu bằng
cách thu địa tô phong kiến, dựa vào quyền sở hữu ruộng đất và phương
pháp bóc lột phong kiến. Họ thường chiếm địa vị cao trong xã hội, sống
cuộc đời xa hoa, thường tụ tập xung quanh nhà vua, trông chờ sự trợ cấp và
uy thế của nhà vua. Cho nên, tầng lớp quý tộc cũ gắn liền vận mệnh với chế
độ quân chủ chuyên chế, cố bảo vệ trật tự phong kiến và được sự ủng hộ
của phong kiến nước ngoài. Đó là thế lực phản động nhất, ngoan cố chống
đối cách mạng; trở thành đối tượng của cách mạng.
Một phần quý tộc, chủ yếu là trung và tiểu quý tộc, chuyển sang kinh
doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa và gọi là quý tộc mới tức là quý
tộc tư sản hóa. Họ chính là kẻ hung hăng nhất trong những vụ rào đất, đuổi
https://thuviensach.vn
nông dân và biến ruộng vườn thành đồng cỏ. Mác viết: “biến đồng ruộng
thành đồng cỏ, đó là khẩu hiệu chiến đấu của lớp quý tộc mới”.[2] Đế tăng
thêm lợi nhuận, quý tộc mới tham gia cả những công việc kinh doanh khác
như buôn bán len dạ hoặc pho-mát, nấu rượu hoặc luyện kim… Ngược lại,
thương nhân giàu có hay những nhà tài chính, nhà công nghiệp cũng có thể
bước vào hàng ngũ quý tộc mới bằng con đường mua và kinh doanh ruộng
đất.
Thế lực kinh tế của quý tộc mới rất mạnh mẽ. Năm 1600, số thu nhập
của tầng lớp này nhiều hơn tổng số thu nhập của quý tộc và giáo chủ cộng
lại. Trong khoảng từ 1561 đến 1640, khi ruộng đất nhà vua giảm xuống
75% thì trái lại, ruộng đất thuộc quyền chiếm hữu của quý tộc mới tăng
20%.
Như vậy ưu thế về kinh tế của quý tộc mới là hậu quả trực tiếp của
chiều hướng sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông thôn nước Anh. Bộ phận
quý tộc mới hình thành, về mặt xã hội, trở thành một giai cấp đặc biệt gắn
quyền lợi với giai cấp tư sản. Nguyện vọng của nó là muốn biến quyền
chiếm hữu ruộng đất hiện có thành quyền sở hữu tư sản, hoàn toàn thoát
khỏi sự ràng buộc của chế độ phong kiến. Ngược lại, chế độ phong kiến
tăng cường kiểm soát quyền chiếm hữu của quý tộc mới, bảo vệ chặt chẽ
những quyền lợi và ruộng đất của giai cấp quý tộc và giáo hội. Cho nên,
giai cấp tư sản dễ dàng liên minh với quý tộc mới để chống lại toàn bộ chế
độ phong kiến chuyên chế. Sự liên minh giữa quý tộc mới và tư sản trong
cuộc đấu tranh cách mạng là một đặc điểm nổi bật ở nước Anh giữa thế kỷ
XVII.
Nhưng đáng chú ý là cương lĩnh ruộng đất của quý tộc mới hoàn toàn
đối lập với nguyện vọng của nông dân. Trong khi nông dân muốn thủ tiêu
toàn bộ quyền tư hữu ruộng đất của các giai cấp bóc lột để người cày có
ruộng thì quý tộc mới chỉ muốn chuyển từ hình thức tư hữu phong kiến
sang hình thức tư hữu tư sản, vì vậy cuộc cách mạng tư sản Anh sẽ không
thể tiến tới chỗ thủ tiêu triệt để những tàn dư phong kiến mà chỉ dừng lại
https://thuviensach.vn
nửa đường, không giải phóng thực sự cho giai cấp nông dân, mang tính
chất bảo thủ.
Giai cấp tư sản
Đầu thế kỷ XVII, thành phần giai cấp tư sản Anh không đồng nhất.
Tầng lớp trên của nó gồm hàng trăm nhà đại công thương nghiệp, nắm
những công ty độc quyền lớn được tự do kinh doanh. Họ trở thành chủ nợ
của nhà vua và quý tộc phong kiến, có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Vì vậy,
tầng lớp này gắn chặt số mệnh với chế độ phong kiến, chủ trương duy trì
nhà vua và chế độ phong kiến, chỉ đòi hỏi một vài cải cách nhỏ để tăng
thêm quyền lực chính trị và ưu thế kinh tế mà thôi.
Tầng lớp đông đảo trong giai cấp tư sản là những thương nhân tự do,
chủ các công trường thủ công, những người kinh doanh ở thuộc địa. Họ có
thái độ thù địch với nhà vua vì những biện pháp duy trì phường hội, chế độ
độc quyền thương mại của triều đình ngăn cản sự phát triển kinh tế công
thương nghiệp của họ. Vì vậy, họ trở thành tầng lớp tư sản tích cực trong
cuộc đấu tranh chống phong kiến, trở thành lực lượng đại biểu cho phương
thức sản xuất mới chống lại phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu.
Giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác
Chế độ nông nô ở Anh đã sớm bị thủ tiêu, người nông dân có thân
phận tự do. Tuy nhiên, trong chế độ phong kiến, khi mà ruộng đất hoàn
toàn thuộc quyền sở hữu của nhà vua và quý tộc thì người nông dân vẫn
không thoát khỏi sự ràng buộc của chế độ phong kiến. Nông dân Anh bị
phân hóa thành những tầng lớp khác nhau: nông dân tự do (freeholder),
nông dân tá điền (copyholder) và cố nông (cotter).
Chiếm đa số trong nông thôn là tá điền từ 60 đến 75% nông dân. Họ là
thành phần cơ bản của nông dân Anh, và cũng là đối tượng chủ yếu của
những tham vọng bóc lột của bọn địa chủ quý tộc. Họ cày cấy trên mảnh
ruộng của địa chủ, thường được giữ trong khoảng 21 năm. Sau khi hết hạn,
https://thuviensach.vn
họ có thể tiếp tục canh tác hoặc bị đuổi ra khỏi mảnh ruộng. Mức địa tô
được quy định tuy không thay đổi, nhưng họ phải trả thêm nhiều món phụ
thu khác rất nặng nề. Khi nào muốn tăng thêm thời hạn canh tác hoặc
truyền ruộng lại cho con cháu, người tá điền phải nộp một món tiền rất lớn,
mức độ là do địa chủ quyết định. Họ còn phải đóng nhiều thứ thuế như thuế
xay lúa, thuế đồng cỏ, thuế rừng và nhiều nghĩa vụ, tạp dịch khác. Nhiều tá
điền bị buộc phải bỏ ruộng đất đi lang thang hoặc chịu làm người cấy rẽ
ngắn hạn, phải chấp nhận mọi điều kiện của địa chủ. Vì vậy, trừ một số tá
điền làm ăn khá giả, còn đại đa số là nghèo khổ, lao động vất vả mà không
đủ ăn. Họ trở thành bộ phận kiên quyết và lực lượng chủ yếu trong cuộc
cách mạng chống phong kiến.
Tầng lớp nông dân tự do có mảnh ruộng nhỏ bé riêng, không hoàn
toàn lệ thuộc vào địa chủ. Trừ một số ít trở nên giàu có, còn phần lớn làm
ăn vất vả, khó khăn và bị đe dọa phá sản, thậm chí trở thành tá điền. Vì vậy,
tầng lớp nông dân tự do cũng rất bất mãn với chế độ phong kiến, muốn xác
lập quyền tư hữu ruộng đất hoàn toàn thuộc về mình, tránh khỏi sự đe dọa
cướp đất của bọn quý tộc địa chủ.
Bộ phận cùng cực nhất trong nông thôn Anh là những người cố nông
chiếm khoảng 40 vạn. Họ hoàn toàn không có đất, buộc phải đi làm thuê
trở thành công nhân nông nghiệp hoặc công nhân trong các công trường thủ
công. Họ chịu hai tầng áp bức của quý tộc phong kiến và tư sản. Cuộc đời
của họ theo hình ảnh của một nhà văn đương thời, là “sự luân phiên giữa
đấu tranh và khổ nhục không ngừng”. Cho nên, họ nêu lên những khẩu hiệu
cương quyết: “Hãy giết sạch bọn quý tộc và tiêu diệt hết bọn nhà giàu”. Họ
là nạn nhân của những vụ rào đất, đuổi nhà, phải đi lang thang đây đó, sống
trong cánh tối tăm và đói khổ. Do đó, họ có thái độ kiên quyết và đóng một
vai trò đáng kể trong những cuộc khởi nghĩa nông dân suốt thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII và trong cuộc cách mạng sau này.
3. Tiền đề tư tưởng của cuộc cách mạng
https://thuviensach.vn
Cùng với sự phát triển của những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa,
tư tưởng tư sản ra đời và dần dần hình thành từ trong lòng chế độ phong
kiến. Trong hoàn cảnh nước Anh, một trong những nước đầu tiên đang ở
quá trình tan rã của chế độ phong kiến, ảnh hưởng của thời kỳ trung cổ còn
nặng nề thì luồng tư tưởng mới không biểu hiện hoàn toàn thuần túy, công
khai, mà phải khoác một bộ áo tôn giáo. Cái áo đó chính là Thanh giáo
chống lại tôn giáo cũ là Anh giáo. Anh giáo dựa trên cơ sở lý thuyết của
đạo Cơ đốc, nhưng về tổ chức thì tách khỏi giáo hội La Mã. Người đứng
đầu giáo hội Anh là vua Anh. vì vậy, Anh giáo được sử dụng như công cụ
thống trị tinh thần của giai cấp phong kiến.
Cuộc đấu tranh giữa Thanh giáo và Anh giáo là cuộc đấu tranh tôn
giáo, nhưng thực chất, nó phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng
tư sản và phong kiến, cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Anh, khi mà chế
độ phong kiến đang suy tàn và chủ nghĩa tư bản đang vươn lên.
Giáo lý của Thanh giáo là chủ nghĩa Canvanh được du nhập vào nước
Anh. Họ tin tưởng vào học thuyết định mệnh và theo đó, Thượng đế trao
cho những nhà tư sản trách nhiệm phát triển công thương nghiệp. Họ loại
khỏi nhà thờ những nghi lễ phiền toái, bài bác những đồ trang sức, bàn thờ
và gương mầu, chống việc đọc kinh bằng sách thánh và chủ trương tự do
đọc bằng miệng theo sự ngẫu hứng. Họ đòi hỏi đơn giản hóa những sinh
hoạt thuộc về tôn giáo. Điều đó thể hiện tính chất tiến bộ của Thanh giáo so
với Anh giáo và phù hợp với yêu cầu của giai cấp tư sản là dành nhiều thời
gian và tiền bạc cho việc phát triển kinh doanh.
Nội bộ Thanh giáo bị phân hóa thành nhiều xu hướng khác nhau. Đại
tư sản giàu có, ít nhiều gắn quyền lợi với chế độ phong kiến, lên tiếng
chống đối giáo hội Anh nhưng không chủ trương cải cách triệt để. Họ
muốn thay thế giáo chủ bằng hội nghị của những người có tuổi và ngoan
đạo. Vì vậy, họ được gọi là phái Trưởng lão. Do địa vị kinh tế, thái độ của
phái Trưởng lão thường không kiên định, dễ thỏa hiệp với thế lực phong
kiến.
https://thuviensach.vn
Cánh tả của Thanh giáo hoàn toàn chống đối giáo hội Anh được gọi là
phái Độc lập. Họ bao gồm tư sản và quý tộc mới loại nhỏ và vừa, quyền lợi
kinh tế đối địch với chế độ phong kiến. Phái Độc lập phản đối chế độ giáo
chủ và cũng không tán thành hội nghị Trưởng lão vì họ cho rằng Trưởng
lão cũng chỉ là những giáo chủ mới mà thôi. Họ không thừa nhận một
quyền lực nào khác ngoài “quyền thiêng liêng của Thượng đế”, không gắn
mình vào một mệnh lệnh nào nếu nó mâu thuẫn với “chân lý tự nhiên”. Tổ
chức của Thanh giáo là những liên minh công xã, độc lập đối với nhau.
Mỗi công xã được quản lý theo ý nguyện của đa số. Phong trào của họ có
tính chất dân chủ rõ rệt hơn.
Trên cơ sở của Thanh giáo, những lý luận chính trị và hiến pháp được
ra đời trong cách mạng tư sản Anh. Quan trọng nhất là bản “Công ước xã
hội”. Bản công ước xác định quyền lực tối cao của nhà vua là do nhân dân
ủy nhiệm, vì vậy, nhà vua phải lãnh đạo đất nước sao cho phù hợp với lợi
ích của nhân dân, và chỉ có như vậy mới đứng vững được. Nếu không, ông
ta sẽ bị coi là “bạo quân” và sẽ bị nhân dân tước đoạt những quyền hạn
được trao khi trước. Từ đó, một số người cấp tiến rút ra kết luận là nhân
dân cần phải đứng dậy chống lại những vua chuyên chế và thậm chí có thể
kết tội tử hình. Những đại biểu nổi tiếng của luồng tư tưởng này ở nước
Anh vào thế kỷ XVI-XVII là Giôn Pônét, Xpenxơ, Giôn Mintơn… Họ
chính là những người tham gia tích cực vào công việc chuẩn bị tư tưởng
cho cuộc cách mạng sắp sửa bùng nổ.
4. Chế độ quân chủ chuyên chế Xchiua (Stuart) và những mâu
thuẫn trong lòng nó
Chế độ quân chủ chuyên chế ở nước Anh
Đến giữa thế kỷ XVII, nước Anh vẫn là một quốc gia phong kiến quân
chủ chuyên chế. Vua là người sở hữu ruộng đất trong toàn quốc, ban cấp
cho các chư hầu và thuộc hạ. Các quý tộc thân thuộc và chư hầu hàng năm
phải nộp tô thuế và cống vật cho nhà vua.
https://thuviensach.vn
Vua nắm trong tay mọi cơ quan cao cấp cai trị đất nước. Đóng vai trò
quan trọng trong các cơ quan đó là Hội đồng cơ mật. Thành viên của Hội
đồng gồm những nhà quý tộc nổi tiếng nhất do vua chỉ định và trở thành
những cố vấn của vua. Vua có quyền kiểm tra các hoạt động tư pháp, hành
pháp và các công việc của nhà thờ. Vua còn là người đứng đầu giáo hội
Anh, nắm trong tay vương quyền lẫn thần quyền.
Tuy nhiên, ngoài tiền tô thuế của các chư hầu, nhà vua không còn
khoản thu nhập nào khác để bù đắp sự ăn tiêu phung phí và bừa bãi. Cho
nên cung đình luôn luôn rơi vào tình trạng túng thiếu. Vương quốc cũng
không có quân đội thường trực. Những điều kiện đó làm cho quyền hành
của nhà vua phần nào bị hạn chế bởi nghị viện. Nghị viện là tổ chức đại
diện cho các tầng lớp phong kiến, có quyền tán thành hay phản đối việc ban
hành thuế khóa. Dần dần, khi chính quyền nhà vua được củng cố thì nghị
viện bị tước đoạt một số quyền đáng kể và những quyền hành đó ở trong
tay tầng lớp quý tộc có đặc quyền. Những việc ban hành chế độ thuế khóa
và ngân sách chi tiêu cho quân đội vẫn là công việc của nghị viện.
Nghị viện ở Anh thành lập từ thế kỷ XIII, bao gồm hai viện: thượng
viện (hay viện nguyên lão) và hạ viện (hay viện dân biểu). Thượng viện là
cơ quan có quyền khởi thảo pháp luật cao nhất và cũng là chỗ dựa chắc
chắn nhất của vua. Chính vua là người chủ trì viện. Nghị viên do vua chỉ
định được quyền kế thừa, cha truyền con nối. Hạ viện đại diện quyền lợi
của quý tộc thấp hơn gồm các chủ ruộng đất được lựa chọn qua những cuộc
bầu cử rất nghiêm ngặt. Đến giữa thế kỷ XVII, thành phần của hạ viện có
thay đổi, đa số là quý tộc mới. Tầng lớp này có ảnh hưởng rất lớn vì có thế
lực kinh tế hùng hậu, có quyền thông qua các đạo luật về thuế khóa và nhờ
đó kiểm soát được việc chi tiêu của nhà vua và chính phủ. Vì vậy, hạ viện
sẽ trở thành nơi đấu tranh gay gắt của thế lực mới, tiến bộ chống lại vua và
tập đoàn phong kiến phản động.
Nghị viện được triệu tập theo ý muốn của vua và các đạo luật chỉ có
hiệu lực sau khi đã được vua phê chuẩn. Vua có quyền giải tán nghị viện
theo ý riêng của mình nhưng lại không hoàn toàn không cần đến nó. Vì vậy,
https://thuviensach.vn
đến đầu thế kỷ XVII giữa vua và nghị viện, hay nói đúng ra là giữa thế lực
phong kiến và thế lực tư sản luôn luôn có sự xung đột gay gắt xoay quanh
các chính sách lớn, đặc biệt là vấn đề tài chính.
Năm 1603, nữ hoàng Êlidabét chết, không có con nối ngôi, chấm dứt
thời kỳ thống trị của vương triều Tuyđo (Tudors). Người kế vị là Jêm I mở
đầu triều đại Xchiua ở nước Anh.
Chính sách phản động của vương triều Xchiua
Tình thế cách mạng chín mùi
Sau khi lên ngôi, Jêm I (1566-1625) và tiếp theo đó là Sáclơ I (16001649) đại diện cho quyền lợi của quý tộc phong kiến chống lại quyền lợi
của giai cấp tư sản, quý tộc mới và quần chúng nhân dân. Không đếm xỉa
tới sự đổi mới của tình hình, các vua triều đại Xchiua vẫn ngoan cố bảo vệ
các đặc quyền phong kiến và ra sức củng cố ngai vàng. Bất chấp khát vọng
của giai cấp tư sản muốn tự do kinh doanh, triều đình thi hành chế độ độc
quyền trong sản xuất, ngoại thương và một phần nội thương; đặt ra những
quy chế rất chặt chẽ để kiểm soát các ngành công nghiệp; đàn áp và trục
xuất tín đồ Thanh giáo; kết thân với triều đình Tây Ban Nha là kẻ cạnh
tranh nguy hiểm của giai cấp tư sản Anh; tiến hành chiến tranh đẫm máu
đối với nhân dân Xcốtlen… Trước những hành động đó, đông đảo quần
chúng nhân dân đứng dậy đấu tranh. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất khi đó diễn
ra vào năm 1607 ở những vùng trung tâm nước Anh, lôi cuốn tới 8.000
người tham gia. Vũ trang bằng dáo mác và liềm hái, họ nêu lên khẩu hiệu
“Thà chết dũng cảm còn hơn phải mòn mòi vì nghèo đói”, đấu tranh tiêu
diệt bọn chủ rào đất là kẻ đã biến họ thành người nghèo khổ, chết chóc vì
thiếu thốn.
Từ cuộc đấu tranh này xuất hiện hai phái “San bằng” và “Đào đất” lực lượng cách mạng của quần chúng có ảnh hưởng tích cực đến tình hình
chính trị ở Anh sau này.
https://thuviensach.vn
Cuộc đấu tranh gay gắt giữa nhà vua và thế lực tư sản quý tộc mới
diễn ra trong nghị viện, xoay quanh vấn đề tài chính. Cần tiền chi tiêu cho
những cuộc chiến tranh ăn cướp ở Xcốtlen, Ailen và cho việc phung phí
trong triều đình, nhà vua nhiều lần triệu tập nghị viện để đề nghị thông qua
luật tăng thuế và ban hành t...
 





