Trường tiểu học Tân Lập 1, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận
Trận chiến cuối cùng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:43' 05-04-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:43' 05-04-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
LỜI TỰA
PHẦN I. THÀNH PHỐ
1
2
3
4
5
6
PHẦN II. VỊ TƯỚNG
1
2
3
4
5
PHẦN III. MỤC TIÊU
1
2
3
4
PHẦN IV. QUYẾT ĐỊNH
1
2
3
4
5
6
PHẦN V. TRẬN CHIẾN
1
https://thuviensach.vn
2
3
CHÚ THÍCH
https://thuviensach.vn
Khi nói về chiến tranh, tôi không mạo hiểm nói lên những thông tin ngẫu
nhiên, cũng không nói lên quan điểm của riêng mình; tôi chỉ mô tả lại
những gì chính mắt tôi nhìn thấy, hoặc biết được từ những người tôi đã hỏi
kỹ càng. Đây là một nhiệm vụ vất vả, vì các nhân chứng của cùng một sự
kiện thường kể lại khác nhau khi nhớ lại, hoặc chỉ quan tâm đến hành động
của phe này hoặc phe kia. Và rất có khả năng là tính tuân thủ lịch sử
nghiêm túc của bản tường thuật của tôi sẽ làm bạn chán chẳng buồn nghe.
Nhưng nếu ai muốn thấy một bức tranh chân thực về những sự kiện đã diễn
ra nhận thấy rằng những gì tôi viết là hữu ích, thì tôi sẽ rất thỏa mãn.
— THUCYDIDES
(Peloponesian War, tập 1, năm 400 TCN)
Cuốn sách này dành để tưởng nhớ ký ức của một cậu bé sinh ra ở Berlin
trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Tên người đó là Peter Fechter.
Năm 1962, Peter đã bị chính người dân mình bắn chết khi cậu ta tròn 17
tuổi. Thi hài Peter nằm bên biểu tượng bi kịch nhất dành cho chiến thắng
của quân Đồng Minh.
— BỨC TƯỜNG BERLIN
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA
A-Day, thứ Hai ngày 16 tháng 4 năm 1945.
Cuộc chiến giành Berlin, cuộc tấn công cuối cùng chống lại Đệ tam
Quốc xã của Hitler, bắt đầu đúng 4 giờ sáng thứ Hai ngày 16 tháng 4 năm
1945 – hay quân Đồng minh phương Tây còn gọi là A-Day. Vào lúc đó,
cách thủ đô không đầy 38 dặm, lửa đỏ bừng cháy trên bầu trời đêm trên
sông Oder đang dâng cao, khai hỏa một cuộc pháo kích mạnh mẽ và là mở
đầu cho cuộc tiến công vào thành phố của quân Liên Xô.
Cùng lúc đó, các thành phần trong Tập đoàn quân 9 của Mỹ đang quay
trở lui khỏi Berlin – hướng về phía tây để đánh chiếm các vị trí mới dọc
sông Elbe, nằm giữa Tangermunde và Barby. Ngày 14 tháng 4, tướng
Eisenhower đã quyết định dừng cuộc tiến quân của liên quân Anh-Mỹ vào
nước Đức. Ông nói, ―Berlin không còn là một mục tiêu quân sự nữa. Khi
các nhánh quân Mỹ nhận được tin này, một số đoàn quân chỉ cách Berlin có
45 dặm.
Khi cuộc tấn công bắt đầu, những người dân Berlin chờ đợi trong thành
phố bị đánh bom đổ nát, tê liệt và hoảng sợ, bám víu vào niềm tin duy nhất
còn lại – niềm tin sống sót. Cái ăn trở nên quan trọng hơn tình yêu, đào bới
còn đáng giá hơn chiến đấu, chịu đựng còn có ý nghĩa quân sự hơn chiến
thắng.
Những gì xảy ra sau đó là câu chuyện về cuộc chiến cuối cùng – cuộc
tấn công và chiếm đóng Berlin. Dù cuốn sách này có nhiều phần kể lại cuộc
chiến, nhưng đây không phải là một bản báo cáo quân sự. Đúng hơn thì nó
là câu chuyện của những người bình thường, cả binh lính và người dân,
những người bị mắc kẹt trong nỗi tuyệt vọng, sụp đổ, kinh hoàng và sự
cưỡng đoạt trong thất bại và chiến thắng.
https://thuviensach.vn
PHẦN I
THÀNH PHỐ
1
Ở những vùng phía Bắc, bình minh đến sớm. Ngay khi những kẻ đánh
bom rút khỏi thành phố, những tia sáng ban mai xuất hiện ở đằng đông.
Trong cái tĩnh lặng của buổi sớm mai, những cột khói đen sừng sững bốc
lên ở quận Pankow, Weissensee và Lichtenberg. Trên những đám mây sà
xuống thấp, thật khó phân biệt giữa ánh ban mai mờ ảo với ánh lửa sáng rực
chiếu lên từ một Berlin vừa bị đánh bom.
Khi khói chầm chậm tan đi trên những đống đổ nát, thành phố bị đánh
bom nhiều nhất nước Đức lừng lững đứng đó, ảm đạm và rùng rợn. Cả
thành phố đen kịt vì tro bụi, lỗ chỗ hàng nghìn hố bom và điểm xuyết
những cây cột xoắn từ các tòa nhà đổ nát. Toàn bộ các khu căn hộ đều biến
mất, và ở trung tâm thủ đô, toàn vùng đã bị xóa sổ. Ở vùng đất trống đó,
những gì từng là đại lộ và đường phố giờ biến thành đường mòn gồ ghề, đi
xuyên qua những ngọn núi đổ nát. Khắp nơi là những tòa nhà không mái,
không cửa sổ, nội thất bị phá hủy hoàn toàn há miệng đứng nhìn trời.
Sau cuộc đột kích, một cơn mưa bụi tro đổ xuống, phủ lên đống hoang
tàn, và trong những hẻm núi gạch và thép vụn, chỉ thấy bụi bốc lên. Bụi
cuộn xoáy dọc theo phần mở rộng của đại lộ Unter den Linden, những hàng
cây nổi tiếng giờ đây trơ trụi, chồi non héo úa trên cành cây. Chỉ một số ít
ngân hàng, thư viện và cửa hàng sang trọng nằm trên đại lộ nổi tiếng này
không bị hư hại. Nhưng ở đầu phía tây con đường, biểu tượng nổi tiếng
nhất Berlin, Cổng Brandenburg cao ngang tòa nhà tám tầng, via triumphalis
https://thuviensach.vn
(con đường khải hoàn), vẫn đứng vững trên 12 cây cột Doric khổng lồ, dù
đầy vết sứt mẻ.
Ở gần Wilhelmstrasse, những mảnh kính vỡ từ hàng nghìn khung cửa sổ
chất đống xung quanh các tòa nhà chính phủ và cung điện, sáng lấp lánh
giữa đống gạch vụn. Ngôi nhà số 73, cung điện bé nhỏ xinh đẹp từng là nơi
sống chính thức của các thủ tướng Đức thời trước Đệ tam Quốc xã đã bị
thiêu rụi hoàn toàn bên trong. Cung điện này từng được mô tả là một
Versailles mini; giờ đây, các bức tượng nữ thần biển của đài phun nước lộng
lẫy ngoài sân trước vỡ tan thành từng mảnh, nằm cạnh mấy chiếc cột ngoài
cổng trước, còn hai bức tượng trinh nữ Rhine sinh đôi đặt trên mái nhà sứt
mẻ thủng lỗ chỗ thì nghiêng về phía sân trong đầy gạch vụn, đầu đã bị sứt
mất.
Cách đó một dãy nhà, tòa nhà số 77 lại không hề hấn gì mấy, chỉ sứt mẻ
sơ sơ. Những khối gạch chất chồng quanh tòa nhà ba tầng hình chữ L này.
Lớp sơn ngoài màu vàng nâu bị tróc nhiều chỗ, và mấy con đại bàng bằng
vàng sáng chói có hoa văn chữ thập trên móng đặt ở mấy cái cổng bị trầy
xước, sứt mẻ đến là thảm hại. Phần ban công đường bệ nhô ra bên trên, nơi
một bài diễn văn điên cuồng từng được diễn thuyết cho cả thế giới nghe.
Reichskanzlei, tòa nhà văn phòng của Thủ tướng Đức, vẫn còn đứng đó.
Phía trên Kurfurstendamm, Đại lộ thứ năm của Berlin, hàng đống khung
biến dạng của Nhà thờ Tưởng niệm Kaiser-Wilhelm vốn từng rất lộng lẫy
nằm ngổn ngang. Kim đồng hồ dừng đúng 7:30 trên mặt đồng hồ đã cháy
thành than; vốn đã bị như thế từ năm 1943, khi bom quét sạch một nghìn
mẫu Anh của thành phố chỉ trong một đêm tháng mười một.
Cách gần 100m là Sở thú Berlin danh tiếng thế giới, giờ chỉ còn là một
khu rừng đổ nát. Hồ cá đã bị hủy hoại hoàn toàn. Các khu nuôi bò sát, hà
mã, kangaroo, hổ và voi cũng bị hư hại nghiêm trọng, cùng với các tòa nhà
bị thủng toang hoác khác. Công viên Tiergarten nổi tiếng rộng 630 mẫu
Anh nằm xung quanh đó giờ thành vùng đất không người, chỉ còn trơ lại
những hố bom to bằng cả căn phòng, những hồ nước đầy gạch vụn và tòa
đại sứ đã hư hại một phần. Công viên từng là một khu rừng thiên nhiên đầy
kỳ hoa di thảo. Giờ những cái cây quý giá ấy đã bị thiêu trụi, trơ lại mấy
https://thuviensach.vn
gốc cây xấu xí.
Góc đông bắc của công viên Tiergarten là phế tích đáng chú ý nhất
Berlin, không bị bom đạn của quân Đồng minh phá hủy mà bị chính trị Đức
hủy diệt. Tòa nhà Reichstag đồ sộ, nơi tổ chức họp Nghị viện, đã bị Đảng
Nazi thiêu cháy vào năm 1933, và vụ hỏa hoạn được vu cho phe cộng sản,
giúp Hitler có cớ được toàn quyền độc tài. Trên phần mái đổ nát nằm bên
trên cổng vào có sáu chiếc cột, nhìn ra biển gạch vụn đang muốn nhấn chìm
tòa nhà, là mấy chữ màu đen rõ ràng: DEM DEUTSCHEN VOLKE – Vì
nhân dân Đức.
Phía trước tòa nhà Reichstag từng có một tổ hợp tượng. Tất cả đã bị hủy,
trừ một pho tượng duy nhất – một pho tượng bằng đồng và cẩm thạch màu
đỏ thẫm cao hơn 60m, đặt trên một cái bệ khổng lồ chạm khắc cột xung
quanh bệ. Sau vụ hỏa hoạn năm 1933, Hitler đã ra lệnh di dời nó. Bây giờ,
nó nằm cách đường Charlottenburg Chaussée một dặm, gần trung tâm trục
Đông-Tây – chuỗi đường cao tốc nối nhau băng qua thành phố từ sông
Havel phía tây đến cuối đường Unter den Linden ở phía đông. Khi mặt trời
mọc vào sáng ngày tháng ba này, ánh nắng chiếu lên bức tượng vàng trên
đỉnh trụ: một bức tượng nữ thần có cánh, một tay cầm vòng nguyệt quế, tay
kia cầm cây trượng chạm huân chương Chữ Thập Sắt. Nổi lên giữa vùng
đất hoang tàn, không suy suyển mặc bom rơi đạn lạc, đó chính là biểu
tượng thanh nhã, mảnh mai của Berlin – tượng đài Chiến thắng.
Trên khắp thành phố vừa bị đột kích, còi báo động bắt đầu rền rĩ báo
hiệu nguy hiểm đã qua. Cuộc tấn công thứ 314 của quân Đồng minh vào
Berlin đã kết thúc. Trong những năm đầu của cuộc chiến, các cuộc tấn công
xảy ra rời rạc, nhưng giờ thủ đô đang phải chịu dội bom gần như liên tục –
quân Mỹ thả bom ban ngày, Không lực Hoàng gia thả bom ban đêm. Số liệu
thiệt hại tăng lên từng giờ; vào thời nay chúng có thể khiến người ta choáng
váng.
Những vụ nổ đã xóa sổ hơn 10 dặm vuông ở những quận đã được xây
dựng – gấp 10 lần phần diện tích bị phá hủy ở London trong trận Luffwaffe.
Gần 85 triệu m3 gạch đá chất ngổn ngang trên đường phố - đủ tạo thành
một ngọn núi cao hơn 300m. Gần một nửa trong số 1.562.000 người dân
https://thuviensach.vn
Berlin bị thương, và một phần ba nhà cửa bị hủy hoại hoàn toàn hoặc không
thể ở được nữa, nhưng ít nhất 52.000 người chết và gấp đôi số đó bị thương
nặng – gấp 5 lần số người chết và bị thương nặng trong trận đánh bom
London. Berlin đã trở thành một Carthage[1] thứ hai – và cơn đau sau cùng
vẫn còn chưa đến.
Trong cái tiêu điều của sự tàn phá, cần nhận thấy rằng con người vẫn có
thể sống sót – nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn bình thường đến điên rồ giữa
đống hoang tàn. Mười hai nghìn cảnh sát vẫn thực hiện nhiệm vụ. Nhân
viên bưu chính vẫn đưa thư; báo vẫn ra mỗi ngày; dịch vụ điện thoại và
điện báo vẫn tiếp tục. Rác rến được thu gom. Một số rạp chiếu phim, nhà
hát và thậm chí một phần sở thú bị tàn phá được mở cửa. Dàn nhạc giao
hưởng Berlin đang dần kết thúc mùa biểu diễn.
Các cửa hàng bách hóa khuyến mãi rầm rộ. Các tiệm bánh mì và tiệm ăn
mở cửa mỗi sáng, và các tiệm giặt ủi, giặt khô, các salon làm đẹp cực đắt
hàng. Xe điện ngầm và tàu lửa trên không vẫn chạy; một số nhà hàng và
quán bar thời thượng không bị phá hủy thu hút lượng lớn khách đến. Và
trên khắp mọi nẻo đường, tiếng rao lanh lảnh của những người bán hoa dạo
nổi tiếng ở Berlin vẫn vang vọng như trong thời bình.
Có lẽ đáng chú ý nhất là hơn 65% số nhà máy lớn của Berlin vẫn hoạt
động bằng một cách nào đó. Gần 600.000 người có việc làm – nhưng giờ để
đến được nhà máy là cả một vấn đề. Thường phải mất hàng giờ. Giao thông
bị đình trệ, xe cộ chết máy, bị chậm và phải đi đường vòng. Hậu quả là
người dân Berlin phải dậy sớm. Mọi người đều muốn đi làm đúng giờ bởi
vì người Mỹ, vốn dậy sớm, thường “làm việc” với thành phố vào khoảng 9
giờ sáng.
Vào sáng hôm nay, một ngày sáng sủa, trong 20 quận đầy ngổn ngang
của thành phố, người dân Berlin tiến về phía trước như người tiền sử trong
thời đồ đá. Họ túa ra từ đường hầm xe điện, từ những hầm trú ẩn dưới các
tòa nhà công cộng, từ những căn hầm nằm dưới ngôi nhà thảm hại của
mình. Dù họ hi vọng hay sợ điều gì, dù lòng trung thành hay niềm tin chính
trị của họ nằm ở đâu, người dân Berlin đều có một điểm chung: họ là những
https://thuviensach.vn
người đã sống sót thêm một đêm nữa, để sống thêm một ngày khác.
Có thể nói điều tương tự cũng đúng với đất nước này. Trong năm thứ sáu
của WWII, nước Đức của Hitler đang liều mạng đánh để sống sót. Đế chế
Đức đã kéo dài một thiên niên kỷ đang bị xâm lăng từ cả hai hướng đông và
tây. Liên quân Anh-Mỹ đang càn quét sông Rhine vĩ đại, đã vượt qua phòng
tuyến ở Remagen, và đang tiến về Berlin. Họ chỉ còn cách 300 dặm về phía
tây. Bờ đông sông Oder còn cấp bách hơn, và rõ ràng là đáng sợ hơn, mối
đe dọa đã thành hình. Quân Nga đứng đó, cách không đầy 50 dặm.
Vào thứ tư ngày 21 tháng 3 năm 1945, ngày đầu tiên của mùa xuân.
Sáng hôm đó, trên đài phát thanh toàn thành phố, người dân Berlin nghe bài
hát mới nhất: “Đây sẽ là một mùa xuân vô tận.”
https://thuviensach.vn
2
Về các mối nguy hiểm đang đe dọa mình, mỗi người dân Berlin phản
ứng theo một cách riêng. Một số ngoan cố xem nhẹ hiểm họa, hi vọng rồi
nó sẽ biến mất. Một số chờ đợi nó. Những người khác phản ứng trong sợ
hãi hoặc giận dữ - và một số, tuyệt vọng khi đã bị dồn vào chân tường, lại
dũng cảm ngẩng cao đầu đối mặt với số phận.
Ở tây nam quận Zehlendorf, người giao sữa Richard Poganowskathwsc
thức dậy lúc bình minh như thường lệ. Trong mấy năm qua, lịch làm việc
hàng ngày của ông có vẻ khá đơn điệu. Giờ đây ông lại thấy biết ơn vì điều
đó. Ông làm việc cho nông trại Domane Dahlem, đã có 300 năm hoạt động,
nằm ở vùng ngoại ô Dahlem của quận Zehlendorf, cách trung tâm thủ đô có
mấy dặm. Nếu là ở các thành phố khác, nơi sản xuất sữa nằm ở chỗ này sẽ
bị xem là kỳ quặc, nhưng ở Berlin thì không.
Một phần năm diện tích thành phố là các công viên và rừng cây, cùng
với các hồ nước, kênh đào và suối. Dù vậy, Poganowska và các nhân công
khác của nông trại Domane vẫn ước gì nông trại nằm ở chỗ nào khác, cách
thành phố thật xa, tránh khỏi nguy hiểm và những trận đánh bom liên tục.
Hôm qua, Poganowska cùng vợ ông, Lisbeth và ba đứa con lại tiếp tục
qua đêm trong hầm của tòa nhà chính trên đường Konigin-Luise Strasse.
Ngủ là một chuyện không tưởng, vì tiếng pháo cao xạ dồn dập và tiếng bom
nổ. Như mọi người dân Berlin khác, người giao sữa 39 tuổi cao lớn cảm
thấy hết sức mệt mỏi trong mấy ngày này.
Ông không biết đêm qua thả bom ở đâu, nhưng ông biết không có quả
nào rơi gần mấy chuồng bò lớn của nông trại Domane. Đám bò sữa quý giá
vẫn an toàn. có vẻ như chẳng có gì có thể làm 200 con bò đó phải bận tâm.
Giữa tiếng bom nổ và tiếng pháo cao xạ ầm vang, chúng vẫn kiên nhẫn
đứng đó, yên lặng nhai lại, và diệu kỳ thay vẫn tiếp tục cho sữa.
https://thuviensach.vn
Poganowska luôn ngạc nhiên khi thấy thế.
Rất buồn ngủ, ông chất sữa lên chiếc xe chở sữa màu nâu và lên chiếc rơ
mooc, buộc hai con ngựa vào xe, con Lisa và con Hans màu lông cáo, còn
chú chó pomeran Poldi lông xám thì ngồi chễm chệ bên cạnh ông, chuẩn bị
lên đường. Xe chạy lộc cộc trên mặt sân rải sỏi, rồi ông rẽ phải vào đường
Pacelli Allee và đi theo hướng bắc, về phía Schmargendorf. Lúc đó là sáu
giờ sáng. Thường thì phải chín giờ tối ông mới xong việc.
Mệt mỏi, thèm được ngủ, Poganowska vẫn không đánh mất tính thô lỗ
hài hước của mình. Ông đã trở thành một hình mẫu đạo đức cho 1.200
khách hàng của mình. Tuyến đương giao sữa của ông nằm ở rìa của ba quận
chính: Zehlendorf, Schöneberg và Wilmersdorf. Cả ba đều bị dội bom nặng
nề; Schöneberg và Wilmersdorf, nằm gần trung tâm thành phố nhất, gần
như bị xóa sổ. Chỉ riêng quận Wilmersdorf đã có hơn 36.000 ngôi nhà bị
phá hủy, và gần một nửa trong số 340.000 người dân trong hai quận này trở
thành vô gia cư. Trong hoàn cảnh đó, một gương mặt tươi cười thật hiếm
thấy và đáng được chào mừng.
Dù còn sớm, Poganowska vẫn thấy có người chờ ông ở mấy ngã tư.
Những này này, mọi người phải xếp hàng khắp nơi - ở tiệm thịt, tiệm bánh
mì, thậm chí là để lấy nước khi đường ống chính bị vỡ. Dù khách đang xếp
hàng đợi, Poganowska vẫn rung một hồi chuông lớn, thông báo là ông đã
tới. Ông bắt đầu làm thế từ hồi đầu năm, khi các cuộc công kích ban ngày
tăng lên, làm ông không thể giao sửa đến từng nhà được nữa. Đối với các
khách hàng của ông, tiếng chuông đã trở thành một biểu tượng, cũng giống
như bản thân Poganowska.
Sáng nay cũng không khác mấy. Poganowska chào khách và bắt đầu
phát phần bơ sữa của họ. Ông đã quen mặt vài người trong số họ suốt gần
chục năm nay, và họ biết ông có thể kiếm thêm cho họ một chút. Bằng cách
tráo mấy tấm thẻ khẩu phần, Poganowska có thể kiếm thêm được chút sữa
hoặc kem cho những dịp đặc biệt như lễ rửa tội hay đám cưới. Rõ ràng, như
thế là bất hợp pháp và liều lĩnh – nhưng mọi người dân Berlin đều phải liều
trong những ngày này.
Càng ngày, các khách hàng của Poganowska càng mệt mỏi, căng thẳng
https://thuviensach.vn
và lo lắng hơn. Chẳng mấy người nói chuyện về chiến tranh nữa. Chẳng ai
biết chuyện gì đang diễn ra, và cũng chẳng ai có thể làm được gì trong
chuyện này cả. Bên cạnh đó, đã có đủ mấy chuyện tầm xàm để nói.
Poganowska không khuyến khích thảo luận tin tức. Bằng cách chìm trong
công việc kéo dài 15 tiếng một ngày này và từ chối nghĩ về chiến tranh, ông
cũng như hàng nghìn người dân Berlin khác, đã tự miễn dịch với nó.
Giờ mỗi ngày Poganowska tìm kiếm những dấu hiệu chắc chắn giúp ông
khỏi mất lòng tin. Ít nhất mấy con đường vẫn còn mở. không có rào chắn
hay xe tăng mai phục trên các con đường chính, không có mấy mảnh pháo
hay xe tăng bị chôn vùi, không có lính đóng ở các điểm trọng yếu. Không
có gì cho thấy chính quyền e ngại quân Nga tấn công hay Berlin đang bị
bao vây cả.
Có một dấu hiệu nhỏ nhưng đáng chú ý khác. Mỗi sáng khi Poganowska
đánh xe qua phường Friedenau, nơi có một vài vị khách nổi trội của ông
sinh sống, ông liếc nhìn căn nhà của một đảng viên Nazi nổi tiếng, một
quan chức có cỡ trong sở bưu điện Berlin. Qua các ô cửa sổ phòng khách,
ông có thể thấy bức chân dung cỡ lớn lồng trong bộ khung thật to. Bức
tranh Adolf Hitler lòe loẹt, toát lên vẻ kiêu căng hết sức, vẫn còn ở đó.
Poganowska biết rõ kiểu cách của mấy vị quan chức của nền Đệ tam Quốc
xã; nếu tình hình thật sự nghiêm trọng, chỗ thờ phụng ngài Quốc trưởng sẽ
biến mất ngay.
Ông khẽ giục mấy con ngựa và tiếp tục đi. Mặc cho mọi thứ ông thấy
được, chẳng có lý do gì phải lo sợ quá mức.
Không nơi nào trong thành phố có thể hoàn toàn thoát khỏi mấy trận
đánh bom, trừ Spandau, quận lớn thứ hai Berlin và nằm ở cực tây, đã thoát
được loại hình tấn công mà mọi người sợ nhất: đánh bom rải thảm. Hết đêm
này qua đêm khác, dân trong quận đều chờ vụ đánh bom xảy ra. Họ rất ngạc
nhiên là chẳng có đánh bom gì cả, trong khi Spandau là trung tâm công
nghiệp quân sự to lớn của Berlin.
Ngược lại với các quận trung tâm thành phố phải chịu 50 đến 70% tổn
thất, Spandau chỉ bị hư hại 10% nhà cửa. Dù điều này có nghĩa là hơn 1000
căn nhà bị phả hủy hoặc không thể ở được nữa, xét theo tiêu chuẩn của
https://thuviensach.vn
những người dân Berlin đang phải chịu công kích dữ dội thì đó chỉ là một
vết cắn ngưa ngứa mà thôi. Trong những vùng hoang tàn đen kịt vì bom ở
các quận trung tâm lưu hành một câu bình luận độc địa: “Die Spandauer
Zwerge kommen zuletzt in die Särge” – Bọn lùn Span-dauites sẽ là mấy
thằng cuối cùng bước vào quan tài.
Ở rìa phía tây Spandau, trong phường Staaken yên tĩnh như ở thôn quê,
Robert và Ingeborg Kolb cảm thấy vô cùng biết ơn khi được sống trong một
vùng nước lặng. Mấy quả bom duy nhất rơi gần chỗ này là mấy quả nhắm
trượt sân bay gần đó – và thiệt hại cũng khá nhỏ. Căn nhà vữa hai tầng màu
nâu - cam của họ, với hành lang bằng kính cùng thảm cỏ và khu vườn bao
quanh, vẫn không hư hại gì. Cuộc sống tiếp diễn gần như bình thường –
ngoại trừ một điều là Robert, vị giám đốc kỹ thuật 54 tuổi của một nhà máy
in nhận thấy rằng việc đi tới chỗ làm ở trung tâm thành phố trở nên khó
khăn hơn hẳn. Việc này có nghĩa là phải đi qua loạt đột kích ban ngày. Điều
đó là mối lo thường trực của bà Ingeborg.
Tối nay như thường lệ, gia đình nhà Kolb định nghe bản tin tiếng Đức
của đài BBC, dù việc này đã bị cấm từ lâu.
Họ đã theo dõi bước tiến của quân Đồng minh trên từng cây số từ cả
phía đông và phía tây. Bây giờ, Hồng quân chỉ cần lái một chuyến xe buýt
là tới được vùng ngoại ô phía đông thành phố. Thế nhưng, do bị bầu không
khí thanh bình xung quanh ru ngủ, họ thấy mối đe dọa sắp xảy ra với thành
phố là chuyện không tưởng, chiến tranh có vẻ quá xa xôi và không thực.
Ông Robert Kolb tin rằng họ vẫn an toàn, còn bà Ingeborg thì tin ông luôn
luôn đúng. Nói cho cùng, ông là một cựu chiến binh từ WWI. Ông Robert
bảo đảm với bà, “Chiến tranh sẽ chỉ đi lướt qua chúng ta mà thôi.”
Khá chắc chắn là dù có chuyện gì xảy ra họ cũng sẽ không bị ảnh hưởng
gì, gia đình nhà Kolb bình tĩnh chờ đợi tương lai. Mùa xuân đã đến rồi, ông
Robert đang phải quyết định sẽ mắc cái võng chỗ nào trong vườn. Bà
Ingeborg có nhiều công việc nhà phải làm: bà định trồng rau bina, mùi tây,
xà lách và khoai tây đầu mùa. Có một vấn đề lớn: bà nên trồng khoai tây
đầu mùa vào đầu tháng 4 hay chờ qua tháng 5, khi thời tiết mùa xuân ổn
định hơn?
https://thuviensach.vn
***
Ở trụ sở đặt trong một ngôi nhà vữa ba tầng màu xám nằm ngoài ngoại ô
Landsberg, cách sông Oder 25 dặm, Nguyên soái quân Liên Xô Georgi K.
Zhukov ngồi bên bàn làm việc, cân nhắc một số kế hoạch của mình.
Trên tường, một tấm bản đồ Berlin cỡ lớn vẽ chi tiết các hướng tấn công
dự tính của Zhukov để đánh chiếm thành phố. Trên bàn làm việc đặt ba
chiếc điện thoại dã chiến. Một chiếc dùng cho mục đích thông thường, một
chiếc khác kết nối với người đồng nghiệp của ông: các Nguyên soái
Konstantin Rokossovskii và Ivan Stepanovich Koniev, các vị tư lệnh của
các đoàn quân lớn ở sườn phía bắc và phía nam quân của ông. Chiếc thứ ba
nối trực tiếp tới Moscow và Tư lệnh Tối cao, Josef Stalin. Vị tư lệnh 49 tuổi
có bộ ngực vạm vỡ của Mặt trận Belorussia Số một nói chuyện với Stalin
hàng đêm, vào lúc 11 giờ, báo cáo lại tình hình tiến quân trong ngày.
Vào lúc này, Zhukov đang băn khoăn không biết khi nào Stalin sẽ ra
lệnh chiếm Berlin. Ông hi vọng mình vẫn còn thời gian. Có lúc Zhukov
nghĩ mình có thể chiếm được thành phố ngay lập tức, nhưng ông chưa đủ
sẵn sàng. Ông đã lập kế hoạch sẽ tấn công vào khoảng cuối tháng 4, dù
chưa chắc chắn lắm. Nếu may mắn, ông nghĩ mình có thể tới được Berlin
và giảm thiểu mọi sự chống cự trong vòng 10 đến 12 ngày. Người Đức sẽ
chiến đấu chống lại ông trên từng tấc đất – ông nghĩ thế. Có lẽ bọn chúng sẽ
chiến đấu dữ dội nhất ở phía tây thành phố. Ở đó có tuyến đường thoát
hiểm duy nhất của lực lượng phòng vệ quân Đức, theo như ông thấy. Nhưng
ông định tấn công chúng từ cả hai phía khi chúng cố thoát ra. Đến tuần đầu
tiên của tháng 5, ông tính sẽ tàn sát hoàn toàn quận Spandau.
Trên căn hộ ở tầng hai nằm trong quận Wilmersdorf của mình, Carl
Johann Wiberg mở ô cửa chớp kiểu Pháp trong phòng khách, bước ra ngoài
cái ban công nhỏ và liếc nhìn trời. Đứng bên cạnh ông là hai người bạn
đồng hành quen thuộc: chú Otto và cô Effie, hai chú chó Dachshund màu
nâu sậm đi lạch bạch. Chúng nhìn ông đầy vẻ trông đợi, chờ ông đưa đi dạo
buổi sáng.
Những ngày này ông Wiberg chẳng làm gì khác ngoài đi dạo. Người dân
https://thuviensach.vn
trong khu rất thích vị doanh nhân 49 tuổi người Thụy Điển này. Họ coi ông
trước hết là một “người Berlin”, rồi mới tới là người Thụy Điển: ông đã
không ròi khỏi thành phố như nhiều người ngoại quốc khác khi những trận
đánh bom bắt đầu. Hơn nữa dù ông Wiberg chưa bao giờ than vãn về các
rắc rối của mình, mấy người hàng xóm của ông biết ông đã gần như trắng
tay. Vợ ông mất năm 1939. Các nhà máy keo dán của ông bị đánh bom phải
ngừng hoạt động. Sau 30 năm làm một nhà doanh nghiệp nhỏ ở Berlin, ông
chẳng còn lại gì ngoài hai con chó và căn hộ. Theo ý của mấy người hàng
xóm, ông là một người tốt hơn cả một người Đức chân chính.
Ông Wiberg nhìn xuống cậu Otto và cô Effie. Ông nói, “Đến lúc ra ngoài
rồi.” Ông đóng cửa sổ và bước qua phòng khách vào phòng nghỉ nhỏ bên
cạnh. Ông mặc chiếc áo bành tô được may đo đẹp đẽ rồi đội chiếc mũ mềm
được đánh bóng cẩn thận. Ông mở ngăn kéo của chiếc bàn gỗ gụ bóng
loáng, lấy ra một đôi găng tay da lộn, rồi ngây người một lúc, đứng ngắm
một bức tranh in thạch bản lồng khung đặt trong ngăn kéo.
Bức tranh in có màu sắc rực rỡ, hình một kỵ sĩ mặc giáp kín mít, cưỡi
một con ngựa chiến màu trắng đang lồng lên. Cây giáo của kỵ sĩ gắn một
dải cờ hiệu phấp phới. Qua tấm che mặt ở phần mũ áo giáp, ánh mắt kỵ sĩ
thật dữ dội. Một lọn tóc rủ trước trán; người kỵ sĩ có đôi mắt sắc bén và
hàng ria nhỏ màu đen. Trên lá cờ hiệu phấp phới là dòng chữ “Der
Bannerträger”- Nhà lãnh đạo. Ông Wiberg chầm chậm đóng ngăn kéo. Ông
giấu tấm tranh in vì những bài đả kích chế nhạo Hitler bị cấm trên toàn
nước Đức. Nhưng ông Wiberg không muốn bỏ nó đi; bức biếm họa đó quá
buồn cười, làm ông không nỡ vứt.
Nắm xích của bọn chó, ông khóa cửa trước cẩn thận, rồi đi xuống hai
dãy cầu thang và bước ra đường phố ngổn ngang gạch vụn. Ông ngã mũ
chào mấy người hàng xóm sống gần căn hộ, và với mấy con chó dẫn đầu,
ông đi dọc theo con đường, bước cẩn thận tranh mấy ổ gà. Ông không biết
Der Bannerträger đang ở đâu khi kết cục đã cận kề. Ở Munich chăng? Ở
ngôi biệt thự Eagle's Nest của ông nằm trên dãy Berchtesgaden? Hay ở đây,
ngay tại Berlin này? Có vẻ chẳng ai biết – dù điều đó cũng chả có gì là lạ.
Nơi ở của Hitler luôn là một bí mật lớn.
https://thuviensach.vn
Sáng nay, ông Wiberg quyết định ghé qua quán bar ưa thích của mình,
Harry's Rosse ở số bảy đường Nestorstrasse – một trong số ít những quán
còn mở cửa trong quận. Khách hàng của quán khá đa dạng: những nhân vật
quan trọng của đảng Nazi, những viên chức người Đức, và một số ít doanh
nhân. Ở đó luôn có những cuộc nói chuyện hay ho và người ta có thể hóng
hớt được tin tức mới nhất – đêm qua bom nổ ở đâu, nhà máy nào bị trúng
bom, Berlin đang chống chịu như thế nào. Ông Wiberg thích gặp mấy ông
bạn già trong bầu không khí vui vẻ và ông cũng quan tâm đến mọi khía
cạnh của cuộc chiến, nhất là tác động của những vụ đánh bom và đạo đức
của người Đức.
Ông đặc biệt muốn biết Hitler đang ở đâu. Khi băng qua đường, ông lại
ngả mũ chào một người quen cũ. Mặc dù các câu hỏi đang dày đặc trong
đầu ông, Wiberg biết một số chuyện có thể làm mấy người hàng xóm của
ông kinh ngạc. Quý ngài Thụy Điển còn đậm chất Đức hơn cả dân Đức này
còn là một thành viên của Phòng Chiến lược tối mật của Mỹ (Office of
Strategic Services). Ông là một điệp viên của quân Đồng minh.
Trong căn hộ tầng trệt ở Kreuzberg, nhà thần học Arthur Leckscheidt,
linh mục dòng Phúc âm của nhà thờ Melanchthon, đang chìm trong đau khổ
và tuyệt vọng. Nhà thờ Gothic có tháp đôi của ông đã bị phá hủy và giáo
dân của ông tiêu tan cả. Qua cửa sổ, ông có thể thấy phần còn lại của nhà
thờ. Mấy tuần trước nó bị trúng bom trực tiếp, và chỉ mấy phút sau đó, mấy
quả bom lửa bốc cháy rừng rực. Mỗi lần nhìn nhà thờ ông lại thấy đau lòng
không dứt. Vào lúc cao điểm của cuộc đột kích, mặc kệ an nguy của bản
thân, Linh mục Leckscheidt chạy ào vào nhà thờ đang bốc cháy. Mặt sau
nhà thờ và chiếc đàn organ lộng lẫy của nó vẫn chưa bị suy suyển. Chạy
thật nhanh qua qua lới đi hẹp đến chỗ đặt cây đàn, ông chỉ có một ý nghĩ
duy nhất: vĩnh biệt cây đàn organ thân yêu, vĩnh biệt nhà thờ của ông. Hát
khe khẽ cho bản thân nghe với đôi mắt đầy lệ, nhà thần học dạo khúc đàn
vĩnh biệt của mình. Khi bom nổ trên khắp Kreuzberg, bệnh nhân trong bệnh
viện thành phố gần đó và người trú ẩn trong các căn hầm sát bên đã nghe
thấy cây đàn organ Melanchthon ngân lên một thành thánh ca cổ, “From
Deepest Need I Cry to Thee.”
https://thuviensach.vn
Bây giờ, ông đang nói tạm biệt theo kiểu khác. Trên bàn làm việc của
ông là bức thảo một lá thư luân chuyển mà ông sẽ gửi cho nhiều giáo dân đã
rời thành phố hoặc đang ở trong quân đội. Ông viết, “Dù chiến trận ở phía
đông và phía tây khiến chúng ta căng thẳng, thủ đô của nước Đức vẫn luôn
là trung tâm không kích… các con thân mến, các con có thể tưởng tượng
xem, thần chết sắp kiếm được một vụ mùa bội thu rồi. Quan tài đã trở nên
khan hiếm. Một phụ nữ nói với ta là bà ấy đã phải đổi cho người ta 20
pound mật ong để kiếm một cái mà chôn người chồng đã mất.”
Ông Leckscheidt cũng giận dữ nữa. Ông viết “Không phải lúc nào các
mục sư chúng ta cũng được gọi đến để chôn cất cho các nạn nhân bị không
kích. Thông thường, Đảng sẽ chịu trách nhiệm lo việc tang ma mà không có
lấy một mục sư… không có những lời của Chúa.” Và hết lần này đến lần
khác trong thư, ông nhắc đến tình trạng bị tàn phá của thành phố. “Các con
đã không thể tưởng tượng nổi Berlin bây giờ trông ra làm sao đâu. Những
tòa nhà đẹp đẽ nhất đã sụp đổ thành đống gạch vụn… Chúng ta thường bị
cắt gas, điện hoặc nước. Chúa giúp chúng ta tránh khỏi nạn đói! Hàng hóa
chợ đen có giá trên trời.” Và ông kết lá thư với sự bi quan cay đắng: “Đây
có lẽ là lá thư cuối cùng trong một thời gian dài sắp tới. Có lẽ chúng ta sẽ
sớm bị cắt mọi hình thức liên lạc. Liệu chúng ta có gặp lại nhau được
chăng? Tất cả đều tùy thuộc trong tay Chúa.”
Đi lòng vòng có chủ đích trên các con đường ngổn ngang gạch đá ở
Dahlem, một giáo sĩ khác, Cha Bernhard Happich, quyết định sẽ tự xử lý
công chuyện. Ông đã lo lắng về một vấn đề nhạy cảm suốt nhiều tuần nay.
Hết đêm này qua đêm khác, ông đã cầu nguyện được chỉ dẫn và suy ngẫm
về con đường mà ông phải chọn. Bây giờ ông đã có quyết định.
Người ta đang có rất cần sự phục vụ của các giáo sĩ, điều này đặc biệt
đúng với Cha Happich. Vị tu sĩ 55 tuổi, người có tấm chứng minh thư mang
con dấu “Tu sĩ dòng Tên: không phù hợp phục vụ cho quân sự” (những
người Do Thái và những kẻ gây rối nguy hiểm khác cũng có một con dấu
của Đảng Nazi giống như vậy), còn là một dược sĩ có trình độ cao. Một
trong các chức trách của ông là Cha Giám Mục của Haus Dahlem, một trại
trẻ mồ côi, bệnh viện phụ sản kiêm nhà nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi do các Nữ
https://thuviensach.vn
Tu Dòng Thánh Tâm điều hành. Chính Mẹ Bề trên Cunegundes và các giáo
dân của bà đã mang rắc rối này đến cho ông, và khiến ông phải đưa ra quyết
định.
Cha Happich không ảo tưởng về đảng Nazi hay về cái kết chắc chắn của
chiến tranh. Từ lâu ông đã quyết định rằng Hitler và mệnh lệnh mới tàn bạo
của ông ta chính là tai họa mà vận mệnh đem lại. Giờ đây, cuộc khủng
hoảng đang áp sát cực nhanh. Chuyện gì sẽ xảy đến với Dahlem và những
vị xơ tốt bụng ở đó, vốn chưa trải việc đời?
Với gương mặt nghiêm trọng, Cha Happich sải bước về nhà. Tòa nhà chỉ
bị hư hại bề mặt và các xơ tin rằng những lời cầu nguyện của mình đã được
Chúa nghe thấy. Cha Happich không phải là bất đồng ý kiến với họ, nhưng
là một người thực tế, ông nghĩ rằng sự may mắn và xui xẻo của tay xạ kích
mới là nguyên nhân.
Khi đi qua tiền sảnh, ông nhìn lên bức tượng lớn, mặc trang phục màu
xanh và vàng kim, tay giơ cao thanh kiếm – Thánh Michael, “Người hiệp sĩ
của Chúa chiến đấu chống lại mọi quỷ dữ.” Các xơ rất có niềm tin vào
Thánh Michael, và Cha Happich rất mừng là mình đã có quyết định. Như
tất cả mọi người, ông đã nghe từ những người dân chạy nạn đã chạy trốn
trước khi quân Nga tiến đến, về nỗi kinh hoàng đã xảy ra ở miền đông nước
Đức. Ông chắc chắn là nhiều chuyện có lẽ đã được thổi phồng, nhưng có
một số chuyện ông biết là thật. Cha Happich đã quyết định cần cảnh báo
cho các xơ. Bây giờ ông cần chọn thời điểm thích hợp để nói cho họ, và
trên hết, ông cần tìm lời lẽ phù hợp. Cha Happich rất lo lắng về việc đó.
Làm sao bạn có thể nói với sáu mươi bà xơ cùng các phụ nữ không theo
Giáo hội rằng họ...
Table of Contents
LỜI TỰA
PHẦN I. THÀNH PHỐ
1
2
3
4
5
6
PHẦN II. VỊ TƯỚNG
1
2
3
4
5
PHẦN III. MỤC TIÊU
1
2
3
4
PHẦN IV. QUYẾT ĐỊNH
1
2
3
4
5
6
PHẦN V. TRẬN CHIẾN
1
https://thuviensach.vn
2
3
CHÚ THÍCH
https://thuviensach.vn
Khi nói về chiến tranh, tôi không mạo hiểm nói lên những thông tin ngẫu
nhiên, cũng không nói lên quan điểm của riêng mình; tôi chỉ mô tả lại
những gì chính mắt tôi nhìn thấy, hoặc biết được từ những người tôi đã hỏi
kỹ càng. Đây là một nhiệm vụ vất vả, vì các nhân chứng của cùng một sự
kiện thường kể lại khác nhau khi nhớ lại, hoặc chỉ quan tâm đến hành động
của phe này hoặc phe kia. Và rất có khả năng là tính tuân thủ lịch sử
nghiêm túc của bản tường thuật của tôi sẽ làm bạn chán chẳng buồn nghe.
Nhưng nếu ai muốn thấy một bức tranh chân thực về những sự kiện đã diễn
ra nhận thấy rằng những gì tôi viết là hữu ích, thì tôi sẽ rất thỏa mãn.
— THUCYDIDES
(Peloponesian War, tập 1, năm 400 TCN)
Cuốn sách này dành để tưởng nhớ ký ức của một cậu bé sinh ra ở Berlin
trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Tên người đó là Peter Fechter.
Năm 1962, Peter đã bị chính người dân mình bắn chết khi cậu ta tròn 17
tuổi. Thi hài Peter nằm bên biểu tượng bi kịch nhất dành cho chiến thắng
của quân Đồng Minh.
— BỨC TƯỜNG BERLIN
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA
A-Day, thứ Hai ngày 16 tháng 4 năm 1945.
Cuộc chiến giành Berlin, cuộc tấn công cuối cùng chống lại Đệ tam
Quốc xã của Hitler, bắt đầu đúng 4 giờ sáng thứ Hai ngày 16 tháng 4 năm
1945 – hay quân Đồng minh phương Tây còn gọi là A-Day. Vào lúc đó,
cách thủ đô không đầy 38 dặm, lửa đỏ bừng cháy trên bầu trời đêm trên
sông Oder đang dâng cao, khai hỏa một cuộc pháo kích mạnh mẽ và là mở
đầu cho cuộc tiến công vào thành phố của quân Liên Xô.
Cùng lúc đó, các thành phần trong Tập đoàn quân 9 của Mỹ đang quay
trở lui khỏi Berlin – hướng về phía tây để đánh chiếm các vị trí mới dọc
sông Elbe, nằm giữa Tangermunde và Barby. Ngày 14 tháng 4, tướng
Eisenhower đã quyết định dừng cuộc tiến quân của liên quân Anh-Mỹ vào
nước Đức. Ông nói, ―Berlin không còn là một mục tiêu quân sự nữa. Khi
các nhánh quân Mỹ nhận được tin này, một số đoàn quân chỉ cách Berlin có
45 dặm.
Khi cuộc tấn công bắt đầu, những người dân Berlin chờ đợi trong thành
phố bị đánh bom đổ nát, tê liệt và hoảng sợ, bám víu vào niềm tin duy nhất
còn lại – niềm tin sống sót. Cái ăn trở nên quan trọng hơn tình yêu, đào bới
còn đáng giá hơn chiến đấu, chịu đựng còn có ý nghĩa quân sự hơn chiến
thắng.
Những gì xảy ra sau đó là câu chuyện về cuộc chiến cuối cùng – cuộc
tấn công và chiếm đóng Berlin. Dù cuốn sách này có nhiều phần kể lại cuộc
chiến, nhưng đây không phải là một bản báo cáo quân sự. Đúng hơn thì nó
là câu chuyện của những người bình thường, cả binh lính và người dân,
những người bị mắc kẹt trong nỗi tuyệt vọng, sụp đổ, kinh hoàng và sự
cưỡng đoạt trong thất bại và chiến thắng.
https://thuviensach.vn
PHẦN I
THÀNH PHỐ
1
Ở những vùng phía Bắc, bình minh đến sớm. Ngay khi những kẻ đánh
bom rút khỏi thành phố, những tia sáng ban mai xuất hiện ở đằng đông.
Trong cái tĩnh lặng của buổi sớm mai, những cột khói đen sừng sững bốc
lên ở quận Pankow, Weissensee và Lichtenberg. Trên những đám mây sà
xuống thấp, thật khó phân biệt giữa ánh ban mai mờ ảo với ánh lửa sáng rực
chiếu lên từ một Berlin vừa bị đánh bom.
Khi khói chầm chậm tan đi trên những đống đổ nát, thành phố bị đánh
bom nhiều nhất nước Đức lừng lững đứng đó, ảm đạm và rùng rợn. Cả
thành phố đen kịt vì tro bụi, lỗ chỗ hàng nghìn hố bom và điểm xuyết
những cây cột xoắn từ các tòa nhà đổ nát. Toàn bộ các khu căn hộ đều biến
mất, và ở trung tâm thủ đô, toàn vùng đã bị xóa sổ. Ở vùng đất trống đó,
những gì từng là đại lộ và đường phố giờ biến thành đường mòn gồ ghề, đi
xuyên qua những ngọn núi đổ nát. Khắp nơi là những tòa nhà không mái,
không cửa sổ, nội thất bị phá hủy hoàn toàn há miệng đứng nhìn trời.
Sau cuộc đột kích, một cơn mưa bụi tro đổ xuống, phủ lên đống hoang
tàn, và trong những hẻm núi gạch và thép vụn, chỉ thấy bụi bốc lên. Bụi
cuộn xoáy dọc theo phần mở rộng của đại lộ Unter den Linden, những hàng
cây nổi tiếng giờ đây trơ trụi, chồi non héo úa trên cành cây. Chỉ một số ít
ngân hàng, thư viện và cửa hàng sang trọng nằm trên đại lộ nổi tiếng này
không bị hư hại. Nhưng ở đầu phía tây con đường, biểu tượng nổi tiếng
nhất Berlin, Cổng Brandenburg cao ngang tòa nhà tám tầng, via triumphalis
https://thuviensach.vn
(con đường khải hoàn), vẫn đứng vững trên 12 cây cột Doric khổng lồ, dù
đầy vết sứt mẻ.
Ở gần Wilhelmstrasse, những mảnh kính vỡ từ hàng nghìn khung cửa sổ
chất đống xung quanh các tòa nhà chính phủ và cung điện, sáng lấp lánh
giữa đống gạch vụn. Ngôi nhà số 73, cung điện bé nhỏ xinh đẹp từng là nơi
sống chính thức của các thủ tướng Đức thời trước Đệ tam Quốc xã đã bị
thiêu rụi hoàn toàn bên trong. Cung điện này từng được mô tả là một
Versailles mini; giờ đây, các bức tượng nữ thần biển của đài phun nước lộng
lẫy ngoài sân trước vỡ tan thành từng mảnh, nằm cạnh mấy chiếc cột ngoài
cổng trước, còn hai bức tượng trinh nữ Rhine sinh đôi đặt trên mái nhà sứt
mẻ thủng lỗ chỗ thì nghiêng về phía sân trong đầy gạch vụn, đầu đã bị sứt
mất.
Cách đó một dãy nhà, tòa nhà số 77 lại không hề hấn gì mấy, chỉ sứt mẻ
sơ sơ. Những khối gạch chất chồng quanh tòa nhà ba tầng hình chữ L này.
Lớp sơn ngoài màu vàng nâu bị tróc nhiều chỗ, và mấy con đại bàng bằng
vàng sáng chói có hoa văn chữ thập trên móng đặt ở mấy cái cổng bị trầy
xước, sứt mẻ đến là thảm hại. Phần ban công đường bệ nhô ra bên trên, nơi
một bài diễn văn điên cuồng từng được diễn thuyết cho cả thế giới nghe.
Reichskanzlei, tòa nhà văn phòng của Thủ tướng Đức, vẫn còn đứng đó.
Phía trên Kurfurstendamm, Đại lộ thứ năm của Berlin, hàng đống khung
biến dạng của Nhà thờ Tưởng niệm Kaiser-Wilhelm vốn từng rất lộng lẫy
nằm ngổn ngang. Kim đồng hồ dừng đúng 7:30 trên mặt đồng hồ đã cháy
thành than; vốn đã bị như thế từ năm 1943, khi bom quét sạch một nghìn
mẫu Anh của thành phố chỉ trong một đêm tháng mười một.
Cách gần 100m là Sở thú Berlin danh tiếng thế giới, giờ chỉ còn là một
khu rừng đổ nát. Hồ cá đã bị hủy hoại hoàn toàn. Các khu nuôi bò sát, hà
mã, kangaroo, hổ và voi cũng bị hư hại nghiêm trọng, cùng với các tòa nhà
bị thủng toang hoác khác. Công viên Tiergarten nổi tiếng rộng 630 mẫu
Anh nằm xung quanh đó giờ thành vùng đất không người, chỉ còn trơ lại
những hố bom to bằng cả căn phòng, những hồ nước đầy gạch vụn và tòa
đại sứ đã hư hại một phần. Công viên từng là một khu rừng thiên nhiên đầy
kỳ hoa di thảo. Giờ những cái cây quý giá ấy đã bị thiêu trụi, trơ lại mấy
https://thuviensach.vn
gốc cây xấu xí.
Góc đông bắc của công viên Tiergarten là phế tích đáng chú ý nhất
Berlin, không bị bom đạn của quân Đồng minh phá hủy mà bị chính trị Đức
hủy diệt. Tòa nhà Reichstag đồ sộ, nơi tổ chức họp Nghị viện, đã bị Đảng
Nazi thiêu cháy vào năm 1933, và vụ hỏa hoạn được vu cho phe cộng sản,
giúp Hitler có cớ được toàn quyền độc tài. Trên phần mái đổ nát nằm bên
trên cổng vào có sáu chiếc cột, nhìn ra biển gạch vụn đang muốn nhấn chìm
tòa nhà, là mấy chữ màu đen rõ ràng: DEM DEUTSCHEN VOLKE – Vì
nhân dân Đức.
Phía trước tòa nhà Reichstag từng có một tổ hợp tượng. Tất cả đã bị hủy,
trừ một pho tượng duy nhất – một pho tượng bằng đồng và cẩm thạch màu
đỏ thẫm cao hơn 60m, đặt trên một cái bệ khổng lồ chạm khắc cột xung
quanh bệ. Sau vụ hỏa hoạn năm 1933, Hitler đã ra lệnh di dời nó. Bây giờ,
nó nằm cách đường Charlottenburg Chaussée một dặm, gần trung tâm trục
Đông-Tây – chuỗi đường cao tốc nối nhau băng qua thành phố từ sông
Havel phía tây đến cuối đường Unter den Linden ở phía đông. Khi mặt trời
mọc vào sáng ngày tháng ba này, ánh nắng chiếu lên bức tượng vàng trên
đỉnh trụ: một bức tượng nữ thần có cánh, một tay cầm vòng nguyệt quế, tay
kia cầm cây trượng chạm huân chương Chữ Thập Sắt. Nổi lên giữa vùng
đất hoang tàn, không suy suyển mặc bom rơi đạn lạc, đó chính là biểu
tượng thanh nhã, mảnh mai của Berlin – tượng đài Chiến thắng.
Trên khắp thành phố vừa bị đột kích, còi báo động bắt đầu rền rĩ báo
hiệu nguy hiểm đã qua. Cuộc tấn công thứ 314 của quân Đồng minh vào
Berlin đã kết thúc. Trong những năm đầu của cuộc chiến, các cuộc tấn công
xảy ra rời rạc, nhưng giờ thủ đô đang phải chịu dội bom gần như liên tục –
quân Mỹ thả bom ban ngày, Không lực Hoàng gia thả bom ban đêm. Số liệu
thiệt hại tăng lên từng giờ; vào thời nay chúng có thể khiến người ta choáng
váng.
Những vụ nổ đã xóa sổ hơn 10 dặm vuông ở những quận đã được xây
dựng – gấp 10 lần phần diện tích bị phá hủy ở London trong trận Luffwaffe.
Gần 85 triệu m3 gạch đá chất ngổn ngang trên đường phố - đủ tạo thành
một ngọn núi cao hơn 300m. Gần một nửa trong số 1.562.000 người dân
https://thuviensach.vn
Berlin bị thương, và một phần ba nhà cửa bị hủy hoại hoàn toàn hoặc không
thể ở được nữa, nhưng ít nhất 52.000 người chết và gấp đôi số đó bị thương
nặng – gấp 5 lần số người chết và bị thương nặng trong trận đánh bom
London. Berlin đã trở thành một Carthage[1] thứ hai – và cơn đau sau cùng
vẫn còn chưa đến.
Trong cái tiêu điều của sự tàn phá, cần nhận thấy rằng con người vẫn có
thể sống sót – nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn bình thường đến điên rồ giữa
đống hoang tàn. Mười hai nghìn cảnh sát vẫn thực hiện nhiệm vụ. Nhân
viên bưu chính vẫn đưa thư; báo vẫn ra mỗi ngày; dịch vụ điện thoại và
điện báo vẫn tiếp tục. Rác rến được thu gom. Một số rạp chiếu phim, nhà
hát và thậm chí một phần sở thú bị tàn phá được mở cửa. Dàn nhạc giao
hưởng Berlin đang dần kết thúc mùa biểu diễn.
Các cửa hàng bách hóa khuyến mãi rầm rộ. Các tiệm bánh mì và tiệm ăn
mở cửa mỗi sáng, và các tiệm giặt ủi, giặt khô, các salon làm đẹp cực đắt
hàng. Xe điện ngầm và tàu lửa trên không vẫn chạy; một số nhà hàng và
quán bar thời thượng không bị phá hủy thu hút lượng lớn khách đến. Và
trên khắp mọi nẻo đường, tiếng rao lanh lảnh của những người bán hoa dạo
nổi tiếng ở Berlin vẫn vang vọng như trong thời bình.
Có lẽ đáng chú ý nhất là hơn 65% số nhà máy lớn của Berlin vẫn hoạt
động bằng một cách nào đó. Gần 600.000 người có việc làm – nhưng giờ để
đến được nhà máy là cả một vấn đề. Thường phải mất hàng giờ. Giao thông
bị đình trệ, xe cộ chết máy, bị chậm và phải đi đường vòng. Hậu quả là
người dân Berlin phải dậy sớm. Mọi người đều muốn đi làm đúng giờ bởi
vì người Mỹ, vốn dậy sớm, thường “làm việc” với thành phố vào khoảng 9
giờ sáng.
Vào sáng hôm nay, một ngày sáng sủa, trong 20 quận đầy ngổn ngang
của thành phố, người dân Berlin tiến về phía trước như người tiền sử trong
thời đồ đá. Họ túa ra từ đường hầm xe điện, từ những hầm trú ẩn dưới các
tòa nhà công cộng, từ những căn hầm nằm dưới ngôi nhà thảm hại của
mình. Dù họ hi vọng hay sợ điều gì, dù lòng trung thành hay niềm tin chính
trị của họ nằm ở đâu, người dân Berlin đều có một điểm chung: họ là những
https://thuviensach.vn
người đã sống sót thêm một đêm nữa, để sống thêm một ngày khác.
Có thể nói điều tương tự cũng đúng với đất nước này. Trong năm thứ sáu
của WWII, nước Đức của Hitler đang liều mạng đánh để sống sót. Đế chế
Đức đã kéo dài một thiên niên kỷ đang bị xâm lăng từ cả hai hướng đông và
tây. Liên quân Anh-Mỹ đang càn quét sông Rhine vĩ đại, đã vượt qua phòng
tuyến ở Remagen, và đang tiến về Berlin. Họ chỉ còn cách 300 dặm về phía
tây. Bờ đông sông Oder còn cấp bách hơn, và rõ ràng là đáng sợ hơn, mối
đe dọa đã thành hình. Quân Nga đứng đó, cách không đầy 50 dặm.
Vào thứ tư ngày 21 tháng 3 năm 1945, ngày đầu tiên của mùa xuân.
Sáng hôm đó, trên đài phát thanh toàn thành phố, người dân Berlin nghe bài
hát mới nhất: “Đây sẽ là một mùa xuân vô tận.”
https://thuviensach.vn
2
Về các mối nguy hiểm đang đe dọa mình, mỗi người dân Berlin phản
ứng theo một cách riêng. Một số ngoan cố xem nhẹ hiểm họa, hi vọng rồi
nó sẽ biến mất. Một số chờ đợi nó. Những người khác phản ứng trong sợ
hãi hoặc giận dữ - và một số, tuyệt vọng khi đã bị dồn vào chân tường, lại
dũng cảm ngẩng cao đầu đối mặt với số phận.
Ở tây nam quận Zehlendorf, người giao sữa Richard Poganowskathwsc
thức dậy lúc bình minh như thường lệ. Trong mấy năm qua, lịch làm việc
hàng ngày của ông có vẻ khá đơn điệu. Giờ đây ông lại thấy biết ơn vì điều
đó. Ông làm việc cho nông trại Domane Dahlem, đã có 300 năm hoạt động,
nằm ở vùng ngoại ô Dahlem của quận Zehlendorf, cách trung tâm thủ đô có
mấy dặm. Nếu là ở các thành phố khác, nơi sản xuất sữa nằm ở chỗ này sẽ
bị xem là kỳ quặc, nhưng ở Berlin thì không.
Một phần năm diện tích thành phố là các công viên và rừng cây, cùng
với các hồ nước, kênh đào và suối. Dù vậy, Poganowska và các nhân công
khác của nông trại Domane vẫn ước gì nông trại nằm ở chỗ nào khác, cách
thành phố thật xa, tránh khỏi nguy hiểm và những trận đánh bom liên tục.
Hôm qua, Poganowska cùng vợ ông, Lisbeth và ba đứa con lại tiếp tục
qua đêm trong hầm của tòa nhà chính trên đường Konigin-Luise Strasse.
Ngủ là một chuyện không tưởng, vì tiếng pháo cao xạ dồn dập và tiếng bom
nổ. Như mọi người dân Berlin khác, người giao sữa 39 tuổi cao lớn cảm
thấy hết sức mệt mỏi trong mấy ngày này.
Ông không biết đêm qua thả bom ở đâu, nhưng ông biết không có quả
nào rơi gần mấy chuồng bò lớn của nông trại Domane. Đám bò sữa quý giá
vẫn an toàn. có vẻ như chẳng có gì có thể làm 200 con bò đó phải bận tâm.
Giữa tiếng bom nổ và tiếng pháo cao xạ ầm vang, chúng vẫn kiên nhẫn
đứng đó, yên lặng nhai lại, và diệu kỳ thay vẫn tiếp tục cho sữa.
https://thuviensach.vn
Poganowska luôn ngạc nhiên khi thấy thế.
Rất buồn ngủ, ông chất sữa lên chiếc xe chở sữa màu nâu và lên chiếc rơ
mooc, buộc hai con ngựa vào xe, con Lisa và con Hans màu lông cáo, còn
chú chó pomeran Poldi lông xám thì ngồi chễm chệ bên cạnh ông, chuẩn bị
lên đường. Xe chạy lộc cộc trên mặt sân rải sỏi, rồi ông rẽ phải vào đường
Pacelli Allee và đi theo hướng bắc, về phía Schmargendorf. Lúc đó là sáu
giờ sáng. Thường thì phải chín giờ tối ông mới xong việc.
Mệt mỏi, thèm được ngủ, Poganowska vẫn không đánh mất tính thô lỗ
hài hước của mình. Ông đã trở thành một hình mẫu đạo đức cho 1.200
khách hàng của mình. Tuyến đương giao sữa của ông nằm ở rìa của ba quận
chính: Zehlendorf, Schöneberg và Wilmersdorf. Cả ba đều bị dội bom nặng
nề; Schöneberg và Wilmersdorf, nằm gần trung tâm thành phố nhất, gần
như bị xóa sổ. Chỉ riêng quận Wilmersdorf đã có hơn 36.000 ngôi nhà bị
phá hủy, và gần một nửa trong số 340.000 người dân trong hai quận này trở
thành vô gia cư. Trong hoàn cảnh đó, một gương mặt tươi cười thật hiếm
thấy và đáng được chào mừng.
Dù còn sớm, Poganowska vẫn thấy có người chờ ông ở mấy ngã tư.
Những này này, mọi người phải xếp hàng khắp nơi - ở tiệm thịt, tiệm bánh
mì, thậm chí là để lấy nước khi đường ống chính bị vỡ. Dù khách đang xếp
hàng đợi, Poganowska vẫn rung một hồi chuông lớn, thông báo là ông đã
tới. Ông bắt đầu làm thế từ hồi đầu năm, khi các cuộc công kích ban ngày
tăng lên, làm ông không thể giao sửa đến từng nhà được nữa. Đối với các
khách hàng của ông, tiếng chuông đã trở thành một biểu tượng, cũng giống
như bản thân Poganowska.
Sáng nay cũng không khác mấy. Poganowska chào khách và bắt đầu
phát phần bơ sữa của họ. Ông đã quen mặt vài người trong số họ suốt gần
chục năm nay, và họ biết ông có thể kiếm thêm cho họ một chút. Bằng cách
tráo mấy tấm thẻ khẩu phần, Poganowska có thể kiếm thêm được chút sữa
hoặc kem cho những dịp đặc biệt như lễ rửa tội hay đám cưới. Rõ ràng, như
thế là bất hợp pháp và liều lĩnh – nhưng mọi người dân Berlin đều phải liều
trong những ngày này.
Càng ngày, các khách hàng của Poganowska càng mệt mỏi, căng thẳng
https://thuviensach.vn
và lo lắng hơn. Chẳng mấy người nói chuyện về chiến tranh nữa. Chẳng ai
biết chuyện gì đang diễn ra, và cũng chẳng ai có thể làm được gì trong
chuyện này cả. Bên cạnh đó, đã có đủ mấy chuyện tầm xàm để nói.
Poganowska không khuyến khích thảo luận tin tức. Bằng cách chìm trong
công việc kéo dài 15 tiếng một ngày này và từ chối nghĩ về chiến tranh, ông
cũng như hàng nghìn người dân Berlin khác, đã tự miễn dịch với nó.
Giờ mỗi ngày Poganowska tìm kiếm những dấu hiệu chắc chắn giúp ông
khỏi mất lòng tin. Ít nhất mấy con đường vẫn còn mở. không có rào chắn
hay xe tăng mai phục trên các con đường chính, không có mấy mảnh pháo
hay xe tăng bị chôn vùi, không có lính đóng ở các điểm trọng yếu. Không
có gì cho thấy chính quyền e ngại quân Nga tấn công hay Berlin đang bị
bao vây cả.
Có một dấu hiệu nhỏ nhưng đáng chú ý khác. Mỗi sáng khi Poganowska
đánh xe qua phường Friedenau, nơi có một vài vị khách nổi trội của ông
sinh sống, ông liếc nhìn căn nhà của một đảng viên Nazi nổi tiếng, một
quan chức có cỡ trong sở bưu điện Berlin. Qua các ô cửa sổ phòng khách,
ông có thể thấy bức chân dung cỡ lớn lồng trong bộ khung thật to. Bức
tranh Adolf Hitler lòe loẹt, toát lên vẻ kiêu căng hết sức, vẫn còn ở đó.
Poganowska biết rõ kiểu cách của mấy vị quan chức của nền Đệ tam Quốc
xã; nếu tình hình thật sự nghiêm trọng, chỗ thờ phụng ngài Quốc trưởng sẽ
biến mất ngay.
Ông khẽ giục mấy con ngựa và tiếp tục đi. Mặc cho mọi thứ ông thấy
được, chẳng có lý do gì phải lo sợ quá mức.
Không nơi nào trong thành phố có thể hoàn toàn thoát khỏi mấy trận
đánh bom, trừ Spandau, quận lớn thứ hai Berlin và nằm ở cực tây, đã thoát
được loại hình tấn công mà mọi người sợ nhất: đánh bom rải thảm. Hết đêm
này qua đêm khác, dân trong quận đều chờ vụ đánh bom xảy ra. Họ rất ngạc
nhiên là chẳng có đánh bom gì cả, trong khi Spandau là trung tâm công
nghiệp quân sự to lớn của Berlin.
Ngược lại với các quận trung tâm thành phố phải chịu 50 đến 70% tổn
thất, Spandau chỉ bị hư hại 10% nhà cửa. Dù điều này có nghĩa là hơn 1000
căn nhà bị phả hủy hoặc không thể ở được nữa, xét theo tiêu chuẩn của
https://thuviensach.vn
những người dân Berlin đang phải chịu công kích dữ dội thì đó chỉ là một
vết cắn ngưa ngứa mà thôi. Trong những vùng hoang tàn đen kịt vì bom ở
các quận trung tâm lưu hành một câu bình luận độc địa: “Die Spandauer
Zwerge kommen zuletzt in die Särge” – Bọn lùn Span-dauites sẽ là mấy
thằng cuối cùng bước vào quan tài.
Ở rìa phía tây Spandau, trong phường Staaken yên tĩnh như ở thôn quê,
Robert và Ingeborg Kolb cảm thấy vô cùng biết ơn khi được sống trong một
vùng nước lặng. Mấy quả bom duy nhất rơi gần chỗ này là mấy quả nhắm
trượt sân bay gần đó – và thiệt hại cũng khá nhỏ. Căn nhà vữa hai tầng màu
nâu - cam của họ, với hành lang bằng kính cùng thảm cỏ và khu vườn bao
quanh, vẫn không hư hại gì. Cuộc sống tiếp diễn gần như bình thường –
ngoại trừ một điều là Robert, vị giám đốc kỹ thuật 54 tuổi của một nhà máy
in nhận thấy rằng việc đi tới chỗ làm ở trung tâm thành phố trở nên khó
khăn hơn hẳn. Việc này có nghĩa là phải đi qua loạt đột kích ban ngày. Điều
đó là mối lo thường trực của bà Ingeborg.
Tối nay như thường lệ, gia đình nhà Kolb định nghe bản tin tiếng Đức
của đài BBC, dù việc này đã bị cấm từ lâu.
Họ đã theo dõi bước tiến của quân Đồng minh trên từng cây số từ cả
phía đông và phía tây. Bây giờ, Hồng quân chỉ cần lái một chuyến xe buýt
là tới được vùng ngoại ô phía đông thành phố. Thế nhưng, do bị bầu không
khí thanh bình xung quanh ru ngủ, họ thấy mối đe dọa sắp xảy ra với thành
phố là chuyện không tưởng, chiến tranh có vẻ quá xa xôi và không thực.
Ông Robert Kolb tin rằng họ vẫn an toàn, còn bà Ingeborg thì tin ông luôn
luôn đúng. Nói cho cùng, ông là một cựu chiến binh từ WWI. Ông Robert
bảo đảm với bà, “Chiến tranh sẽ chỉ đi lướt qua chúng ta mà thôi.”
Khá chắc chắn là dù có chuyện gì xảy ra họ cũng sẽ không bị ảnh hưởng
gì, gia đình nhà Kolb bình tĩnh chờ đợi tương lai. Mùa xuân đã đến rồi, ông
Robert đang phải quyết định sẽ mắc cái võng chỗ nào trong vườn. Bà
Ingeborg có nhiều công việc nhà phải làm: bà định trồng rau bina, mùi tây,
xà lách và khoai tây đầu mùa. Có một vấn đề lớn: bà nên trồng khoai tây
đầu mùa vào đầu tháng 4 hay chờ qua tháng 5, khi thời tiết mùa xuân ổn
định hơn?
https://thuviensach.vn
***
Ở trụ sở đặt trong một ngôi nhà vữa ba tầng màu xám nằm ngoài ngoại ô
Landsberg, cách sông Oder 25 dặm, Nguyên soái quân Liên Xô Georgi K.
Zhukov ngồi bên bàn làm việc, cân nhắc một số kế hoạch của mình.
Trên tường, một tấm bản đồ Berlin cỡ lớn vẽ chi tiết các hướng tấn công
dự tính của Zhukov để đánh chiếm thành phố. Trên bàn làm việc đặt ba
chiếc điện thoại dã chiến. Một chiếc dùng cho mục đích thông thường, một
chiếc khác kết nối với người đồng nghiệp của ông: các Nguyên soái
Konstantin Rokossovskii và Ivan Stepanovich Koniev, các vị tư lệnh của
các đoàn quân lớn ở sườn phía bắc và phía nam quân của ông. Chiếc thứ ba
nối trực tiếp tới Moscow và Tư lệnh Tối cao, Josef Stalin. Vị tư lệnh 49 tuổi
có bộ ngực vạm vỡ của Mặt trận Belorussia Số một nói chuyện với Stalin
hàng đêm, vào lúc 11 giờ, báo cáo lại tình hình tiến quân trong ngày.
Vào lúc này, Zhukov đang băn khoăn không biết khi nào Stalin sẽ ra
lệnh chiếm Berlin. Ông hi vọng mình vẫn còn thời gian. Có lúc Zhukov
nghĩ mình có thể chiếm được thành phố ngay lập tức, nhưng ông chưa đủ
sẵn sàng. Ông đã lập kế hoạch sẽ tấn công vào khoảng cuối tháng 4, dù
chưa chắc chắn lắm. Nếu may mắn, ông nghĩ mình có thể tới được Berlin
và giảm thiểu mọi sự chống cự trong vòng 10 đến 12 ngày. Người Đức sẽ
chiến đấu chống lại ông trên từng tấc đất – ông nghĩ thế. Có lẽ bọn chúng sẽ
chiến đấu dữ dội nhất ở phía tây thành phố. Ở đó có tuyến đường thoát
hiểm duy nhất của lực lượng phòng vệ quân Đức, theo như ông thấy. Nhưng
ông định tấn công chúng từ cả hai phía khi chúng cố thoát ra. Đến tuần đầu
tiên của tháng 5, ông tính sẽ tàn sát hoàn toàn quận Spandau.
Trên căn hộ ở tầng hai nằm trong quận Wilmersdorf của mình, Carl
Johann Wiberg mở ô cửa chớp kiểu Pháp trong phòng khách, bước ra ngoài
cái ban công nhỏ và liếc nhìn trời. Đứng bên cạnh ông là hai người bạn
đồng hành quen thuộc: chú Otto và cô Effie, hai chú chó Dachshund màu
nâu sậm đi lạch bạch. Chúng nhìn ông đầy vẻ trông đợi, chờ ông đưa đi dạo
buổi sáng.
Những ngày này ông Wiberg chẳng làm gì khác ngoài đi dạo. Người dân
https://thuviensach.vn
trong khu rất thích vị doanh nhân 49 tuổi người Thụy Điển này. Họ coi ông
trước hết là một “người Berlin”, rồi mới tới là người Thụy Điển: ông đã
không ròi khỏi thành phố như nhiều người ngoại quốc khác khi những trận
đánh bom bắt đầu. Hơn nữa dù ông Wiberg chưa bao giờ than vãn về các
rắc rối của mình, mấy người hàng xóm của ông biết ông đã gần như trắng
tay. Vợ ông mất năm 1939. Các nhà máy keo dán của ông bị đánh bom phải
ngừng hoạt động. Sau 30 năm làm một nhà doanh nghiệp nhỏ ở Berlin, ông
chẳng còn lại gì ngoài hai con chó và căn hộ. Theo ý của mấy người hàng
xóm, ông là một người tốt hơn cả một người Đức chân chính.
Ông Wiberg nhìn xuống cậu Otto và cô Effie. Ông nói, “Đến lúc ra ngoài
rồi.” Ông đóng cửa sổ và bước qua phòng khách vào phòng nghỉ nhỏ bên
cạnh. Ông mặc chiếc áo bành tô được may đo đẹp đẽ rồi đội chiếc mũ mềm
được đánh bóng cẩn thận. Ông mở ngăn kéo của chiếc bàn gỗ gụ bóng
loáng, lấy ra một đôi găng tay da lộn, rồi ngây người một lúc, đứng ngắm
một bức tranh in thạch bản lồng khung đặt trong ngăn kéo.
Bức tranh in có màu sắc rực rỡ, hình một kỵ sĩ mặc giáp kín mít, cưỡi
một con ngựa chiến màu trắng đang lồng lên. Cây giáo của kỵ sĩ gắn một
dải cờ hiệu phấp phới. Qua tấm che mặt ở phần mũ áo giáp, ánh mắt kỵ sĩ
thật dữ dội. Một lọn tóc rủ trước trán; người kỵ sĩ có đôi mắt sắc bén và
hàng ria nhỏ màu đen. Trên lá cờ hiệu phấp phới là dòng chữ “Der
Bannerträger”- Nhà lãnh đạo. Ông Wiberg chầm chậm đóng ngăn kéo. Ông
giấu tấm tranh in vì những bài đả kích chế nhạo Hitler bị cấm trên toàn
nước Đức. Nhưng ông Wiberg không muốn bỏ nó đi; bức biếm họa đó quá
buồn cười, làm ông không nỡ vứt.
Nắm xích của bọn chó, ông khóa cửa trước cẩn thận, rồi đi xuống hai
dãy cầu thang và bước ra đường phố ngổn ngang gạch vụn. Ông ngã mũ
chào mấy người hàng xóm sống gần căn hộ, và với mấy con chó dẫn đầu,
ông đi dọc theo con đường, bước cẩn thận tranh mấy ổ gà. Ông không biết
Der Bannerträger đang ở đâu khi kết cục đã cận kề. Ở Munich chăng? Ở
ngôi biệt thự Eagle's Nest của ông nằm trên dãy Berchtesgaden? Hay ở đây,
ngay tại Berlin này? Có vẻ chẳng ai biết – dù điều đó cũng chả có gì là lạ.
Nơi ở của Hitler luôn là một bí mật lớn.
https://thuviensach.vn
Sáng nay, ông Wiberg quyết định ghé qua quán bar ưa thích của mình,
Harry's Rosse ở số bảy đường Nestorstrasse – một trong số ít những quán
còn mở cửa trong quận. Khách hàng của quán khá đa dạng: những nhân vật
quan trọng của đảng Nazi, những viên chức người Đức, và một số ít doanh
nhân. Ở đó luôn có những cuộc nói chuyện hay ho và người ta có thể hóng
hớt được tin tức mới nhất – đêm qua bom nổ ở đâu, nhà máy nào bị trúng
bom, Berlin đang chống chịu như thế nào. Ông Wiberg thích gặp mấy ông
bạn già trong bầu không khí vui vẻ và ông cũng quan tâm đến mọi khía
cạnh của cuộc chiến, nhất là tác động của những vụ đánh bom và đạo đức
của người Đức.
Ông đặc biệt muốn biết Hitler đang ở đâu. Khi băng qua đường, ông lại
ngả mũ chào một người quen cũ. Mặc dù các câu hỏi đang dày đặc trong
đầu ông, Wiberg biết một số chuyện có thể làm mấy người hàng xóm của
ông kinh ngạc. Quý ngài Thụy Điển còn đậm chất Đức hơn cả dân Đức này
còn là một thành viên của Phòng Chiến lược tối mật của Mỹ (Office of
Strategic Services). Ông là một điệp viên của quân Đồng minh.
Trong căn hộ tầng trệt ở Kreuzberg, nhà thần học Arthur Leckscheidt,
linh mục dòng Phúc âm của nhà thờ Melanchthon, đang chìm trong đau khổ
và tuyệt vọng. Nhà thờ Gothic có tháp đôi của ông đã bị phá hủy và giáo
dân của ông tiêu tan cả. Qua cửa sổ, ông có thể thấy phần còn lại của nhà
thờ. Mấy tuần trước nó bị trúng bom trực tiếp, và chỉ mấy phút sau đó, mấy
quả bom lửa bốc cháy rừng rực. Mỗi lần nhìn nhà thờ ông lại thấy đau lòng
không dứt. Vào lúc cao điểm của cuộc đột kích, mặc kệ an nguy của bản
thân, Linh mục Leckscheidt chạy ào vào nhà thờ đang bốc cháy. Mặt sau
nhà thờ và chiếc đàn organ lộng lẫy của nó vẫn chưa bị suy suyển. Chạy
thật nhanh qua qua lới đi hẹp đến chỗ đặt cây đàn, ông chỉ có một ý nghĩ
duy nhất: vĩnh biệt cây đàn organ thân yêu, vĩnh biệt nhà thờ của ông. Hát
khe khẽ cho bản thân nghe với đôi mắt đầy lệ, nhà thần học dạo khúc đàn
vĩnh biệt của mình. Khi bom nổ trên khắp Kreuzberg, bệnh nhân trong bệnh
viện thành phố gần đó và người trú ẩn trong các căn hầm sát bên đã nghe
thấy cây đàn organ Melanchthon ngân lên một thành thánh ca cổ, “From
Deepest Need I Cry to Thee.”
https://thuviensach.vn
Bây giờ, ông đang nói tạm biệt theo kiểu khác. Trên bàn làm việc của
ông là bức thảo một lá thư luân chuyển mà ông sẽ gửi cho nhiều giáo dân đã
rời thành phố hoặc đang ở trong quân đội. Ông viết, “Dù chiến trận ở phía
đông và phía tây khiến chúng ta căng thẳng, thủ đô của nước Đức vẫn luôn
là trung tâm không kích… các con thân mến, các con có thể tưởng tượng
xem, thần chết sắp kiếm được một vụ mùa bội thu rồi. Quan tài đã trở nên
khan hiếm. Một phụ nữ nói với ta là bà ấy đã phải đổi cho người ta 20
pound mật ong để kiếm một cái mà chôn người chồng đã mất.”
Ông Leckscheidt cũng giận dữ nữa. Ông viết “Không phải lúc nào các
mục sư chúng ta cũng được gọi đến để chôn cất cho các nạn nhân bị không
kích. Thông thường, Đảng sẽ chịu trách nhiệm lo việc tang ma mà không có
lấy một mục sư… không có những lời của Chúa.” Và hết lần này đến lần
khác trong thư, ông nhắc đến tình trạng bị tàn phá của thành phố. “Các con
đã không thể tưởng tượng nổi Berlin bây giờ trông ra làm sao đâu. Những
tòa nhà đẹp đẽ nhất đã sụp đổ thành đống gạch vụn… Chúng ta thường bị
cắt gas, điện hoặc nước. Chúa giúp chúng ta tránh khỏi nạn đói! Hàng hóa
chợ đen có giá trên trời.” Và ông kết lá thư với sự bi quan cay đắng: “Đây
có lẽ là lá thư cuối cùng trong một thời gian dài sắp tới. Có lẽ chúng ta sẽ
sớm bị cắt mọi hình thức liên lạc. Liệu chúng ta có gặp lại nhau được
chăng? Tất cả đều tùy thuộc trong tay Chúa.”
Đi lòng vòng có chủ đích trên các con đường ngổn ngang gạch đá ở
Dahlem, một giáo sĩ khác, Cha Bernhard Happich, quyết định sẽ tự xử lý
công chuyện. Ông đã lo lắng về một vấn đề nhạy cảm suốt nhiều tuần nay.
Hết đêm này qua đêm khác, ông đã cầu nguyện được chỉ dẫn và suy ngẫm
về con đường mà ông phải chọn. Bây giờ ông đã có quyết định.
Người ta đang có rất cần sự phục vụ của các giáo sĩ, điều này đặc biệt
đúng với Cha Happich. Vị tu sĩ 55 tuổi, người có tấm chứng minh thư mang
con dấu “Tu sĩ dòng Tên: không phù hợp phục vụ cho quân sự” (những
người Do Thái và những kẻ gây rối nguy hiểm khác cũng có một con dấu
của Đảng Nazi giống như vậy), còn là một dược sĩ có trình độ cao. Một
trong các chức trách của ông là Cha Giám Mục của Haus Dahlem, một trại
trẻ mồ côi, bệnh viện phụ sản kiêm nhà nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi do các Nữ
https://thuviensach.vn
Tu Dòng Thánh Tâm điều hành. Chính Mẹ Bề trên Cunegundes và các giáo
dân của bà đã mang rắc rối này đến cho ông, và khiến ông phải đưa ra quyết
định.
Cha Happich không ảo tưởng về đảng Nazi hay về cái kết chắc chắn của
chiến tranh. Từ lâu ông đã quyết định rằng Hitler và mệnh lệnh mới tàn bạo
của ông ta chính là tai họa mà vận mệnh đem lại. Giờ đây, cuộc khủng
hoảng đang áp sát cực nhanh. Chuyện gì sẽ xảy đến với Dahlem và những
vị xơ tốt bụng ở đó, vốn chưa trải việc đời?
Với gương mặt nghiêm trọng, Cha Happich sải bước về nhà. Tòa nhà chỉ
bị hư hại bề mặt và các xơ tin rằng những lời cầu nguyện của mình đã được
Chúa nghe thấy. Cha Happich không phải là bất đồng ý kiến với họ, nhưng
là một người thực tế, ông nghĩ rằng sự may mắn và xui xẻo của tay xạ kích
mới là nguyên nhân.
Khi đi qua tiền sảnh, ông nhìn lên bức tượng lớn, mặc trang phục màu
xanh và vàng kim, tay giơ cao thanh kiếm – Thánh Michael, “Người hiệp sĩ
của Chúa chiến đấu chống lại mọi quỷ dữ.” Các xơ rất có niềm tin vào
Thánh Michael, và Cha Happich rất mừng là mình đã có quyết định. Như
tất cả mọi người, ông đã nghe từ những người dân chạy nạn đã chạy trốn
trước khi quân Nga tiến đến, về nỗi kinh hoàng đã xảy ra ở miền đông nước
Đức. Ông chắc chắn là nhiều chuyện có lẽ đã được thổi phồng, nhưng có
một số chuyện ông biết là thật. Cha Happich đã quyết định cần cảnh báo
cho các xơ. Bây giờ ông cần chọn thời điểm thích hợp để nói cho họ, và
trên hết, ông cần tìm lời lẽ phù hợp. Cha Happich rất lo lắng về việc đó.
Làm sao bạn có thể nói với sáu mươi bà xơ cùng các phụ nữ không theo
Giáo hội rằng họ...
 





